Nhiều người có thói quen tìm đến một ly rượu vang hoặc vài lon bia sau một ngày làm việc căng thẳng, với hy vọng làm dịu đi cảm giác mệt mỏi và lo âu. Với những người đang trải qua giai đoạn trầm cảm nhẹ, việc mượn chất cồn để tìm kiếm sự thư giãn tạm thời lại càng trở nên phổ biến. Cảm giác chếnh choáng ban đầu thường mang lại sự giải tỏa giả tạo, khiến nhiều người lầm tưởng rằng rượu bia là liều thuốc an thần tự nhiên và vô hại.
Tuy nhiên, các bằng chứng y khoa hiện đại khẳng định người bị trầm cảm nhẹ không nên uống rượu để thư giãn. Việc sử dụng đồ uống có cồn không những không giúp cải thiện tâm trạng mà còn kích hoạt phản ứng dội ngược trong hệ thần kinh trung ương, khiến các triệu chứng âu lo, buồn bã và rối loạn cảm xúc trở nên trầm trọng hơn sau khi cơn say qua đi.
Vòng luẩn quẩn của chất cồn trong não bộ
Để hiểu vì sao rượu không thể giúp giải tỏa căng thẳng lâu dài, cần nhìn vào cách cồn tác động lên các chất dẫn truyền thần kinh. Ở giai đoạn cấp tính ngay sau khi uống, rượu làm gia tăng sự giải phóng các monoamine trong não bộ [1]. Đồng thời, chất cồn làm giảm sự giải phóng glutamate, một chất dẫn truyền thần kinh kích thích quan trọng của các tế bào thần kinh [1]. Sự suy giảm glutamate tạm thời này tạo ra cảm giác êm dịu, thả lỏng cơ bắp và làm chậm các phản ứng căng thẳng của cơ thể [1].
Thế nhưng, trạng thái êm dịu này chỉ tồn tại trong thời gian rất ngắn. Khi nồng độ cồn trong máu bắt đầu suy giảm và bước vào giai đoạn gián đoạn sử dụng hay trạng thái chếnh choáng sau say, hệ thần kinh lập tức phản ứng ngược lại [1]. Một lượng lớn glutamate bị dội ngược và giải phóng ồ ạt từ các khớp thần kinh [1]. Hiện tượng dội ngược glutamate này, khi kết hợp với tình trạng rối loạn các con đường monoamine và trục nội tiết thần kinh, sẽ trực tiếp kích hoạt cảm giác bồn chồn, lo âu tột độ và tâm trạng bực bội khó chịu [1]. Đối với người vốn đã có nền tảng tâm lý bất ổn hoặc trầm cảm nhẹ, phản ứng dội ngược này đẩy họ vào trạng thái suy sụp tinh thần sâu sắc hơn.
Bên cạnh đó, việc lạm dụng rượu mạn tính còn can thiệp sâu vào chuyển hóa dinh dưỡng của cơ thể. Tiêu thụ lượng cồn lớn trong thời gian dài gây tác động tiêu cực đến cả các chất dinh dưỡng đa lượng lẫn vi lượng, đặc biệt làm suy giảm lượng selen trong cơ thể [2]. Nồng độ vi chất selen lại đóng vai trò điều chỉnh chức năng tinh thần [2]. Sự thiếu hụt sinh học này được xem là một trong những cơ chế thúc đẩy biến đổi tiêu cực về tâm trạng, hành vi và nhận thức [2].
Rượu không dập tắt suy nghĩ tiêu cực
Nhiều người trầm cảm thường xuyên rơi vào cái bẫy của những dòng suy nghĩ luẩn quẩn, tự trách bản thân và cảm giác buồn bã không tên. Họ tìm đến rượu như một chiến lược có ý thức nhằm đối phó với những trạng thái cảm xúc khó chịu này [3].
Một nghiên cứu công bố năm 2022 đã tiến hành kiểm tra giả thuyết liệu rượu có giúp xoa dịu tâm trí ở bệnh nhân trầm cảm hay không [3]. Những người tham gia được chia thành các nhóm có dùng rượu và nhóm đối chứng để đánh giá mức độ suy nghĩ ám ảnh, siêu nhận thức và nỗi buồn [3]. Kết quả chỉ ra rằng việc uống rượu không hề làm giảm bớt mức độ đau khổ về mặt cảm xúc so với các nhóm còn lại [3]. Các nhà khoa học không tìm thấy bất kỳ bằng chứng nào cho thấy chất cồn có khả năng làm giảm các suy nghĩ nghiền ngẫm lặp đi lặp lại, siêu nhận thức tiêu cực hay nỗi buồn ở người bệnh trầm cảm [3].
Điều này đồng nghĩa với việc dù người uống có cảm thấy cơ thể chậm lại do tác động ức chế thần kinh, tâm trí của họ vẫn không hề thoát khỏi những dằn vặt nội tâm. Việc cố gắng uống nhiều hơn chỉ gây thêm suy giảm nhận thức mà không mang lại hiệu quả trị liệu tâm lý như mong đợi [3].
Bằng chứng từ các nghiên cứu can thiệp và theo dõi dài hạn
Tác động làm nặng thêm tâm trạng u uất của rượu đã được ghi nhận qua nhiều công trình nghiên cứu trên các nhóm đối tượng khác nhau. Một nghiên cứu thử nghiệm năm 1983 theo dõi 93 phụ nữ có thói quen uống rượu trong giao tiếp xã hội nhằm đo lường chức năng nhận thức và tâm trạng lúc tỉnh táo [4]. Kết quả kiểm tra ban đầu cho thấy có mối liên hệ chặt chẽ giữa lượng rượu tiêu thụ với mức độ trầm cảm và tức giận tự báo cáo khi họ hoàn toàn tỉnh táo [4].
Sau đó, nhóm phụ nữ này được chia ngẫu nhiên để thực hiện giảm tiêu thụ rượu kéo dài hoặc duy trì mức uống cũ trong 6 tuần [4]. Đến đợt đánh giá thứ hai, những phụ nữ được chọn ngẫu nhiên để cắt giảm lượng cồn đã ghi nhận sự suy giảm rõ rệt về mức độ trầm cảm, tức giận và lú lẫn tinh thần khi tỉnh táo so với nhóm vẫn duy trì hoặc tăng mức uống [4]. Các nhà nghiên cứu kết luận rằng ngay cả mức tiêu thụ rượu tương đối thấp cũng tạo ra sự gia tăng đáng kể tình trạng trầm cảm và tức giận ở trạng thái tỉnh táo [4].
Ở quy mô cộng đồng lớn hơn, nghiên cứu Tromso tại Na Uy công bố năm 1999 đã theo dõi 8.260 người trưởng thành (gồm 4.407 phụ nữ) trong khoảng thời gian 7 năm [5]. Kết quả phân tích mô hình phương trình cấu trúc cho thấy việc uống rượu dự báo mức độ tâm trạng chán nản cao hơn ở những người uống nhiều vô độ thuộc cả hai giới sau thời gian theo dõi [5]. Đáng chú ý, việc uống rượu cũng dự báo một cách yếu nhưng rõ ràng về tâm trạng buồn bã ở nam giới có mức tiêu thụ rượu vừa phải [5].
Mối liên hệ giữa việc uống nhiều rượu ở tuổi thanh thiếu niên và nguy cơ khởi phát rối loạn trầm cảm nặng sau này cũng đã được xác nhận qua các nghiên cứu cộng đồng tiến cứu [1]. Những người có hành vi sử dụng rượu gây hại theo tiêu chuẩn phân loại bệnh tật quốc tế ICD-10 trong giai đoạn đầu trưởng thành có mức độ triệu chứng trầm cảm nghiêm trọng hơn nhiều so với những người uống ít [1].
Nguy cơ hai chiều giữa rối loạn cảm xúc và cồn
Mối quan hệ giữa rượu và trầm cảm không phải là đường một chiều mà là một vòng xoáy bệnh lý tương hỗ. Khảo sát dịch tễ học và các nghiên cứu cộng đồng chỉ ra rằng tình trạng lạm dụng và phụ thuộc rượu rất thường xảy ra đồng thời với các rối loạn cảm xúc [1].
Một phân tích tổng hợp từ bốn nghiên cứu dịch tễ quy mô lớn cho thấy những người lạm dụng hoặc phụ thuộc rượu có nguy cơ mắc cả rối loạn trầm cảm và rối loạn lo âu trong suốt cuộc đời cao gấp hai đến ba lần [1]. Tương tự, một phân tích tổng hợp gần đây khẳng định sự hiện diện của một trong hai tình trạng—hoặc rối loạn sử dụng rượu, hoặc rối loạn trầm cảm nặng—sẽ làm tăng gấp đôi nguy cơ mắc phải tình trạng còn lại [1].
Nghiên cứu Tromso cũng phát hiện thấy ở những phụ nữ uống nhiều vô độ, tâm trạng chán nản đồng thời dự báo họ sẽ uống nhiều hơn, phản ánh việc phụ nữ có xu hướng dùng rượu như một phản ứng trước sự đau khổ về cảm xúc [5]. Động cơ uống rượu để đối phó và làm dịu cảm xúc tiêu cực cũng được ghi nhận ở giới trẻ [6]. Một nghiên cứu năm 2016 trên sinh viên đại học cho thấy những cá nhân báo cáo tỷ lệ triệu chứng trầm cảm cao hơn cũng phải gánh chịu nhiều hậu quả liên quan đến rượu hơn so với nhóm không trầm cảm [6]. Điều này giải thích tại sao các biện pháp can thiệp thông thường dựa trên chuẩn mực xã hội thường kém hiệu quả đối với những người uống rượu vì mục đích trốn tránh cảm xúc [6].
Tại Hàn Quốc, dữ liệu khảo sát dinh dưỡng và sức khỏe quốc gia KNHANES giai đoạn 2014 và 2016 cho thấy người uống rượu mức độ nguy cơ cao có nhận thức về căng thẳng và triệu chứng trầm cảm cao hơn nhóm nguy cơ thấp [7]. Ở các quốc gia khác như Phần Lan và Vương quốc Anh, những người uống rượu say sưa hoặc có vấn đề về sử dụng rượu đều có sức khỏe tâm thần kém, mức độ hài lòng với cuộc sống thấp và căng thẳng tâm lý cao [7]. Trên bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), việc uống nhiều rượu liên quan rõ rệt đến sự gia tăng tâm trạng trầm cảm [7]. Bên cạnh đó, khảo sát KNHANES cho thấy tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa ở người mắc COPD cao hơn đáng kể so với người bình thường (33,0% so với 22,2% ở nam và 48,5% so với 29,6% ở nữ) [7].
Đối với những người mắc rối loạn lưỡng cực, cồn còn gây xáo trộn chu kỳ cảm xúc phức tạp hơn. Một nghiên cứu thuần tập tiến cứu năm 2017 theo dõi 108 bệnh nhân ngoại trú lưỡng cực type I và II trong 1 năm cho thấy số đợt cảm xúc trong quá khứ điều chỉnh trực tiếp tác động của rượu [8]. Ở những bệnh nhân có dưới 7 đợt rối loạn cảm xúc trước đó, số ngày hưng cảm và hưng cảm nhẹ trong năm tăng tới 100,3% cho mỗi đơn vị cồn gia tăng trung bình hàng ngày [8].
Hiểu lầm tai hại và giá trị của sự kiêng cữ
Một trong những sai lầm phổ biến nhất là quan niệm "uống một chút cho dễ ngủ và thoải mái đầu óc". Rượu có thể gây buồn ngủ nhanh do ức chế thần kinh tạm thời, nhưng cái giá phải trả vào sáng hôm sau là phản ứng dội ngược glutamate kèm cảm giác lo âu, bồn chồn và suy nhược [1]. Uống rượu để tìm kiếm niềm vui khi đang buồn bã thực chất là một liệu pháp tự dùng thuốc thất bại.
Bằng chứng y học đã chứng minh điều ngược lại: tâm trạng buồn bã và trầm cảm thuyên giảm đáng kể trong một thời gian rất ngắn ngay sau khi ngừng uống rượu [1]. Khi người nghiện rượu phát triển triệu chứng trầm cảm, tâm trạng của họ có xu hướng cải thiện khá nhanh chóng chỉ sau một khoảng thời gian ngắn kiêng rượu mà không cần liệu pháp chuyên biệt nhắm vào triệu chứng trầm cảm [2]. Quá trình kiêng cữ này cũng gắn liền với xu hướng bình thường hóa nồng độ selen trong máu [2].
Ngay cả một can thiệp tối giản cũng mang lại giá trị to lớn. Một nghiên cứu trên 235 phụ nữ bị trầm cảm sau sinh có mức tiêu thụ rượu vượt khuyến cáo cho thấy: chỉ cần một can thiệp ngắn hạn gồm hai buổi hướng dẫn uống an toàn kèm bài tập về nhà đã giúp giảm đáng kể các triệu chứng trầm cảm sau 6 tháng so với nhóm không can thiệp [1].
Ai cần tuyệt đối thận trọng?
Dựa trên các nghiên cứu khoa học, một số nhóm đối tượng cần đặc biệt cẩn trọng và tốt nhất nên tránh xa chất cồn:
- Người đang có dấu hiệu trầm cảm nhẹ, rối loạn lo âu hoặc thường xuyên có suy nghĩ tiêu cực: Rượu không làm giảm nỗi buồn hay sự nghiền ngẫm u uất [3], mà chỉ làm tăng nguy cơ phát triển thành trầm cảm nặng [1].
- Người có tiền sử rối loạn cảm xúc hoặc rối loạn lưỡng cực: Cồn có thể làm tăng mạnh số ngày hưng cảm hoặc gây bất ổn định chu kỳ tâm trạng [8].
- Phụ nữ sau sinh: Đây là giai đoạn nhạy cảm về nội tiết và cảm xúc, việc uống rượu vượt mức khuyến nghị làm tăng nặng các triệu chứng trầm cảm sau sinh [1].
- Người có thói quen "mượn rượu giải sầu": Những người uống rượu nhằm mục đích đối phó với áp lực cảm xúc có nguy cơ gặp các hậu quả tiêu cực về hành vi và sức khỏe cao hơn hẳn so với người uống vì giao tiếp [6].
- Người mắc bệnh mạn tính: Bệnh nhân mắc các bệnh như tắc nghẽn đường thở mạn tính uống nhiều rượu sẽ gia tăng mức độ trầm cảm và làm suy giảm chất lượng sống [7].
Lối sống khoa học thay thế cho ly rượu thư giãn
Thay vì tìm đến chất cồn, việc xây dựng các thói quen lành mạnh giúp điều hòa hệ thần kinh một cách tự nhiên và bền vững:
- Thiết lập thói quen thư giãn không cồn: Thay thế ly rượu buổi tối bằng các loại trà thảo mộc ấm như hoa cúc, tía tô đất hoặc nước ấm ngâm chân. Các bài tập hít thở sâu, thiền định hoặc nghe nhạc nhẹ giúp kích hoạt hệ thần kinh phó giao cảm mà không gây rối loạn các chất dẫn truyền thần kinh.
- Cắt giảm và tiến tới ngưng uống rượu: Nếu nhận thấy bản thân có xu hướng muốn uống rượu mỗi khi buồn bực, hãy chủ động giảm dần tần suất và tiến tới kiêng cữ hoàn toàn. Khoa học đã chứng minh tâm trạng sẽ cải thiện rõ rệt chỉ sau một thời gian ngắn không cồn [1], [4].
- Tăng cường vận động thể chất: Đi bộ nhanh, chạy bộ nhẹ nhàng hoặc tập yoga giúp giải phóng endorphin tự nhiên, tái cân bằng các chất dẫn truyền thần kinh và cải thiện chất lượng giấc ngủ sâu.
- Bổ sung dinh dưỡng cân đối: Ăn uống đầy đủ các nhóm chất, chú trọng thực phẩm giàu vi chất và selen (như các loại hạt, ngũ cốc nguyên cám, cá, trứng) để hỗ trợ chức năng nhận thức và tâm thần [2].
- Tìm kiếm sự trợ giúp chuyên môn: Nếu cảm giác u uất kéo dài quá 2 tuần, ảnh hưởng đến công việc và sinh hoạt, bạn nên đến gặp bác sĩ tâm thần hoặc chuyên gia tâm lý để được đánh giá và hỗ trợ phù hợp, tuyệt đối không tự điều trị bằng bia rượu hoặc các chất kích thích.
Rượu bia chưa từng là giải pháp cho những tổn thương hay áp lực tâm lý. Một ly rượu có thể mang lại ảo giác nhẹ nhõm trong chốc lát, nhưng cái giá phải trả là sự bất ổn kéo dài của hệ thần kinh và nguy cơ đẩy trầm cảm nhẹ thành bệnh lý mạn tính. Hãy chọn cách chăm sóc bản thân tỉnh táo và khoa học để bảo vệ trọn vẹn sức khỏe tinh thần của chính mình.



