Nhiều người mắc bệnh tiểu đường tuýp 2 thường được người thân biếu tặng nhân sâm để bồi bổ sức khỏe và giảm mệt mỏi. Tuy nhiên, không ít bệnh nhân lo ngại thảo dược này có thể làm xáo trộn mức đường huyết hoặc tương tác với phác đồ điều trị hiện tại.
Thực tế, nhân sâm châu Á (Panax ginseng) có khả năng hỗ trợ giảm đường huyết lúc đói, tăng độ nhạy insulin và cải thiện nhẹ chỉ số đường huyết trung bình HbA1c [1]. Tuy nhiên, hiệu quả này ở mức khiêm tốn, phụ thuộc nhiều vào dạng chiết xuất, liều lượng và cần thời gian sử dụng liên tục chứ không tạo ra tác dụng hạ đường huyết tức thì [2].
Cơ chế nhân sâm tác động lên đường huyết
Tiểu đường là rối loạn chuyển hóa mạn tính đặc trưng bởi tình trạng tăng đường huyết [3]. Trong đó, tiểu đường tuýp 2 là dạng phổ biến nhất, liên quan mật thiết đến tình trạng kháng insulin cùng sự suy giảm dần số lượng và chức năng của tế bào beta tuyến tụy [3]. Theo y học cổ truyền phương Đông, nhân sâm (Panax ginseng C.A. Meyer) vốn được dùng hàng ngàn năm như thảo dược bồi bổ sinh lực, giúp tăng lưu thông máu và giảm mệt mỏi [4].
Dưới góc độ y học hiện đại, nhân sâm châu Á điều chỉnh mức đường huyết thông qua ba cơ chế chính: làm tăng độ nhạy của cơ thể với insulin, cải thiện chức năng tế bào beta tuyến tụy và kích thích tế bào thu nhận đường nhờ tăng sản xuất các chất vận chuyển glucose (GLUT) [1]. Thành phần chủ chốt tạo nên tác dụng này là ginsenosides (nhóm hợp chất saponin steroid), bao gồm ginsenosides trung tính và malonyl ginsenosides [1]. Các ginsenosides trung tính giúp hạ đường huyết, tăng độ nhạy insulin, điều hòa chuyển hóa mỡ và giảm cân [1].
Bên cạnh phần rễ thường dùng, chiết xuất từ quả nhân sâm cũng cho thấy tiềm năng thúc đẩy sự tăng sinh của tế bào beta tuyến tụy, từ đó tăng tiết insulin để kiểm soát đường huyết [1]. Khi tế bào nhạy cảm hơn với insulin và tuyến tụy hoạt động hiệu quả hơn, lượng đường dư thừa trong máu sẽ được đưa vào mô cơ dễ dàng hơn.
Bằng chứng từ các thử nghiệm trên mô hình động vật
Trước khi thử nghiệm trên người, các nhà khoa học đã thực hiện nhiều nghiên cứu tiền lâm sàng để giải mã cơ chế của nhân sâm. Một nghiên cứu công bố năm 2012 đã kiểm tra tác dụng hạ đường huyết của chiết xuất quả nhân sâm trên mô hình chuột bị tiểu đường do thiếu hụt tế bào beta tuyến tụy [3]. Chuột bệnh được cho uống chiết xuất quả nhân sâm chín (đỏ) hoặc chưa chín (xanh) với liều 100 hoặc 200 mg/kg trọng lượng cơ thể mỗi ngày trong suốt 10 tuần [3].
Kết quả sau 5 và 10 tuần cho thấy cả hai loại chiết xuất quả chín và xanh đều làm giảm đáng kể mức đường huyết không nhịn ăn và cải thiện khả năng dung nạp đường của chuột, trong đó liều cao mang lại hiệu quả tốt hơn [3]. Lượng insulin tiết ra khi có kích thích từ đường glucose tăng lên đáng kể ở nhóm chuột dùng chiết xuất quả sâm so với nhóm đối chứng [3]. Thử nghiệm trong ống nghiệm cũng xác nhận chiết xuất này làm tăng sự nhân lên của tế bào beta, gợi ý tiềm năng hỗ trợ tái tạo tế bào sản xuất insulin [3].
Một báo cáo tổng hợp năm 2022 cũng ghi nhận chiết xuất quả nhân sâm giúp cải thiện độ nhạy insulin ở những cá thể chuột trên 15 tháng tuổi [1]. Ngoài ra, việc sử dụng hoạt chất malonyl ginsenosides trên chuột mắc tiểu đường (do chế độ ăn nhiều chất béo kết hợp tiêm chất gây bệnh) giúp giảm rõ rệt đường huyết lúc đói, cải thiện dung nạp glucose và tăng độ nhạy insulin mà không làm thay đổi trọng lượng cơ thể [1].
Nghiên cứu lâm sàng trên người bệnh nói gì?
Trên người bệnh tiểu đường tuýp 2, hiệu quả của nhân sâm châu Á đã được kiểm chứng qua các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng giả dược. Đáng chú ý là một nghiên cứu công bố năm 2011 đánh giá hiệu quả và độ an toàn của ginsam (một dạng chiết xuất nhân sâm bằng giấm) trên những bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 chưa từng dùng thuốc điều trị [5]. Nghiên cứu kéo dài 8 tuần trên 72 bệnh nhân, chia đều vào 4 nhóm (mỗi nhóm 18 người) uống liều 1500 mg, 2000 mg, 3000 mg ginsam hoặc giả dược mỗi ngày [5].
Kết quả sau 8 tuần cho thấy chiết xuất nhân sâm làm giảm đáng kể chỉ số HbA1c: giảm 0,56% ở nhóm dùng 1500 mg, giảm 0,31% ở nhóm 2000 mg và giảm 0,29% ở nhóm 3000 mg, trong khi nhóm giả dược chỉ giảm 0,02% [5]. Đường huyết lúc đói cũng giảm theo xu hướng tương tự: giảm lần lượt 21,40 mg/dL, 14,27 mg/dL và 6,76 mg/dL ở các nhóm dùng 1500 mg, 2000 mg và 3000 mg so với mức giảm 2,25 mg/dL của nhóm giả dược [5]. Tỷ lệ bệnh nhân đạt mức giảm HbA1c trên 0,5% ở nhóm uống 1500 mg và 2000 mg đều đạt 27,8%, cao hơn hẳn mức 11,1% của nhóm giả dược, và không có tác dụng phụ nghiêm trọng nào được ghi nhận [5].
Về độ nhạy insulin, một thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng giả dược khác trên 20 bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 (độ tuổi trung bình 51,5) đã ghi nhận kết quả tích cực [1]. Nhóm bệnh nhân được bổ sung nhân sâm châu Á giảm khoảng 45% chỉ số kháng insulin (HOMA-IR), vượt trội so với mức giảm 12% ở nhóm dùng giả dược [1]. Hơn nữa, một thử nghiệm kéo dài 12 tuần trên 80 người bệnh tiểu đường tuýp 2 (gồm 49 nam và 31 nữ) sử dụng kết hợp nhân sâm châu Á và nhân sâm Mỹ đã giúp giảm 0,3% chỉ số HbA1c [1].
Nhìn nhận toàn diện từ phân tích gộp và giới hạn bằng chứng
Để có cái nhìn tổng quát hơn, một phân tích gộp công bố năm 2014 đã đánh giá dữ liệu từ 16 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (kéo dài từ 30 ngày trở lên) ở cả người mắc và không mắc tiểu đường [6]. Phân tích này bao gồm 770 người trong phép so sánh đường huyết lúc đói, 349 người về insulin huyết tương lúc đói, 264 người về chỉ số HbA1c và 305 người về chỉ số kháng insulin HOMA-IR [6].
Kết quả tổng hợp xác nhận nhân sâm giúp giảm nhẹ nhưng có ý nghĩa thống kê mức đường huyết lúc đói so với nhóm đối chứng, với mức giảm trung bình là 0,31 mmol/L [6]. Tuy nhiên, khi xét chung toàn bộ các nghiên cứu, nhân sâm không tạo ra thay đổi rõ rệt lên lượng insulin lúc đói, chỉ số HbA1c hay HOMA-IR; chỉ khi phân tích riêng nhóm các thử nghiệm thiết kế song song mới thấy mức giảm HbA1c có ý nghĩa là 0,22% so với thiết kế bắt chéo [6].
Các nhà nghiên cứu chỉ ra giới hạn lớn của các bằng chứng hiện tại là thời gian theo dõi còn ngắn, khi có tới 67% số thử nghiệm kéo dài dưới 12 tuần [6]. Thêm vào đó, những người tham gia vốn đã có mức đường huyết ban đầu được kiểm soát tương đối tốt, với chỉ số HbA1c trung vị ở người không tiểu đường là 5,4% và ở người mắc tiểu đường là 7,1%, khiến biên độ giảm thêm không nhiều [6].
Những hiểu lầm thường gặp khi dùng nhân sâm hạ đường huyết
Hiểu lầm phổ biến nhất là cho rằng uống nhân sâm vào sẽ giúp hạ đường huyết ngay lập tức sau bữa ăn. Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi công bố năm 2014 đã bác bỏ quan niệm này khi đánh giá tác dụng tức thì của bạch sâm Hàn Quốc (dạng nhân sâm châu Á không qua hấp sấy) trên bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 [2]. Dù mẫu sâm thử nghiệm có hàm lượng ginsenoside lên tới 1,8% (cao gấp đôi mức 0,8% của các mẫu nghiên cứu trước đó), việc uống các liều tăng dần vẫn không mang lại tác dụng hạ đường huyết cấp tính nào sau nghiệm pháp dung nạp 75 g đường glucose [2].
Hiểu lầm thứ hai là "dùng liều càng cao thì đường huyết giảm càng mạnh". Dữ liệu từ nghiên cứu chiết xuất ginsam năm 2011 cho thấy điều ngược lại: liều 1500 mg mỗi ngày giúp giảm HbA1c tới 0,56% và giảm đường huyết đói 21,40 mg/dL, tốt hơn hẳn so với liều 3000 mg (chỉ giảm 0,29% HbA1c và 6,76 mg/dL đường huyết đói) [5].
Ngoài ra, người tiêu dùng thường đánh đồng mọi sản phẩm nhân sâm trên thị trường đều có tác dụng như nhau. Thực tế, nhân sâm châu Á và nhân sâm Mỹ có đặc tính khác nhau, cách chế biến hấp sấy hay để thô cũng làm thay đổi tác dụng [2]. Sự dao động lớn về hàm lượng hoạt chất ginsenosides giữa các chế phẩm bán tự do trên thị trường dẫn đến hiệu quả hỗ trợ tiểu đường rất khác biệt [7].
Ai nên thận trọng khi sử dụng?
Mặc dù thử nghiệm lâm sàng ghi nhận chiết xuất nhân sâm dung nạp tốt và không gây biến cố bất lợi nghiêm trọng trong 8 tuần [5], người bệnh tiểu đường tuyệt đối không dùng nhân sâm để thay thế thuốc điều trị. Trong nghiên cứu năm 2011, các đối tượng tham gia đều là người mới mắc bệnh, chưa từng dùng thuốc hạ đường huyết [5].
Với những bệnh nhân đang tiêm insulin mỗi ngày hoặc uống thuốc hạ đường huyết theo đơn [4], việc tự ý bổ sung nhân sâm có thể làm thay đổi mức đường huyết lúc đói, đòi hỏi phải theo dõi sát sao để tránh nguy cơ hạ đường huyết quá mức. Những người có bệnh lý nền phức tạp, phụ nữ mang thai hoặc người đang dùng nhiều loại thuốc điều trị bệnh mạn tính cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa nội tiết trước khi dùng.
Cách áp dụng thực tế cho người bệnh tiểu đường
Để nhận được lợi ích hỗ trợ kiểm soát đường huyết từ nhân sâm châu Á, người bệnh nên ưu tiên các sản phẩm chiết xuất đã được chuẩn hóa hàm lượng hoạt chất thay vì dùng củ sâm trôi nổi không rõ hàm lượng [7]. Nếu sử dụng các dạng chiết xuất tương tự như trong nghiên cứu, mức liều vừa phải khoảng 1500 mg mỗi ngày đã cho thấy hiệu quả tối ưu hơn việc lạm dụng liều cao [5].
Người bệnh cần kiên trì sử dụng đều đặn trong thời gian tối thiểu từ 8 đến 12 tuần để thấy được sự cải thiện trên chỉ số HbA1c và độ nhạy insulin [1], không nên kỳ vọng uống một vài lần sẽ hạ đường huyết ngay sau bữa ăn [2]. Song song đó, cần duy trì chế độ ăn cân bằng, hạn chế tinh bột tinh chế, tập thể dục đều đặn và đo đường huyết định kỳ tại nhà.
Tóm lại, nhân sâm châu Á có cơ sở khoa học trong việc hỗ trợ giảm nhẹ đường huyết lúc đói, cải thiện độ nhạy insulin và giảm chỉ số HbA1c ở người bệnh tiểu đường tuýp 2. Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp hỗ trợ thêm với hiệu quả vừa phải, không có tác dụng hạ đường huyết cấp tính. Người bệnh cần giữ tâm lý cân bằng, chọn chế phẩm chuẩn hóa với liều lượng hợp lý và luôn trao đổi với bác sĩ điều trị trước khi đưa nhân sâm vào chế độ chăm sóc sức khỏe hằng ngày.
