Nhiều người dân ở các vùng nông thôn và ven đô vẫn giữ thói quen thu hái các loại cây cỏ quanh nhà hoặc ven kênh rạch, trong đó có cây diễm mao, đem về phơi khô rồi sắc nước uống để thanh nhiệt, giải độc. Không ít người tin rằng cây cỏ mọc hoang dã là thảo dược tự nhiên lành tính, và chỉ cần trải qua các bước phơi thật khô dưới nắng gắt rồi đun sôi kỹ trên bếp thì mọi mầm bệnh hay độc tố ngấm từ nguồn nước đều sẽ bị triệt tiêu hoàn toàn.
Tuy nhiên, niềm tin này là một sai lầm phổ biến và tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với sức khỏe. Các phân tích khoa học cho thấy nhiệt độ phơi sấy hay đun sôi sắc thuốc chỉ có thể tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh như vi khuẩn, ký sinh trùng, chứ hoàn toàn không thể làm mất đi các kim loại nặng độc hại đã tích lũy bên trong mô thực vật. Khi cây sinh trưởng tại vùng nước ô nhiễm, các chất độc vô cơ này vẫn tồn tại nguyên vẹn sau khi chế biến và đi thẳng vào cơ thể người sử dụng.
Hiểu lầm phổ biến về việc phơi khô và đun sôi thảo dược
Trong quan niệm dân gian, quá trình phơi nắng và đun sắc được xem là bước "vô trùng" toàn diện cho mọi loại dược liệu tự nhiên. Người sử dụng thường lập luận rằng ánh nắng mặt trời chứa tia tử ngoại kết hợp với nhiệt độ cao khi nấu sôi sẽ bẻ gãy mọi độc chất, biến nguồn thảo mộc thu hái từ bất kỳ đâu thành chén thuốc an toàn.
Thực tế, quá trình phơi khô chỉ làm bốc hơi lượng nước tự do trong tế bào thực vật, còn đun sôi nước sắc chủ yếu tác động lên các tác nhân sinh học. Vi khuẩn, nấm mốc hoặc một số hợp chất hữu cơ kém bền với nhiệt có thể bị bất hoạt hoặc phân hủy ở 100 độ C. Ngược lại, các độc tố hóa học dạng nguyên tố, điển hình là kim loại nặng ngấm từ nguồn nước thải hay bùn đất ô nhiễm, lại có đặc tính hóa lý vô cùng bền vững.
Nhiệt độ phơi sấy thông thường hoặc độ sôi của nước sắc hoàn toàn không đủ mức năng lượng để phá hủy hay làm bay hơi các nguyên tố kim loại nặng. Nguy hiểm hơn, khi nước bốc hơi trong quá trình phơi và cô đặc khi sắc, nồng độ của các kim loại nặng tính trên một đơn vị khối lượng khô của thảo dược thực tế lại tăng lên, khiến người uống phải dung nạp một lượng chất độc đậm đặc hơn.
Kim loại nặng xâm nhập và tích tụ trong thảo dược như thế nào?
Môi trường tự nhiên hiện nay chịu nhiều tác động từ quá trình đô thị hóa và hoạt động của con người, khiến các kim loại nặng phát tán rộng rãi trong hệ sinh thái [1]. Chúng di chuyển vào đất, nước và không khí, sau đó tích tụ lâu dài trong chuỗi thức ăn tự nhiên [1]. Các loài thực vật nói chung và cây dược liệu nói riêng khi mọc tại những khu vực tiếp nhận nguồn nước ô nhiễm sẽ liên tục hút nước và các khoáng chất qua hệ rễ để nuôi dưỡng thân lá.
Trong một đánh giá tổng quan dựa trên khoảng 276 công trình nghiên cứu được công bố từ năm 1988 đến năm 2021, các nhà khoa học đã chỉ ra rằng độc tính kim loại nặng có tác động to lớn đến cây thảo dược, làm thay đổi chất lượng nguyên liệu thô, chiết xuất và ảnh hưởng trực tiếp đến độ an toàn của sản phẩm [1]. Sự ô nhiễm từ môi trường canh tác và nguồn nước tưới khiến thảo dược tích lũy chất độc mà mắt thường không thể nhận biết được [1].
Tại những địa điểm ô nhiễm như khu vực xả nước thải đô thị, thực vật tự nhiên có xu hướng hấp thu và tích tụ kim loại nặng rất mạnh. Một khảo sát thực địa tiến hành năm 2015 tại bãi nước thải đô thị ở Abbottabad (Pakistan) trên các loài thực vật mọc tự nhiên đã ghi nhận hàm lượng kim loại nặng tích lũy trong cây biến thiên rõ rệt theo thứ tự sắt (Fe) > kẽm (Zn) > crom (Cr) > niken (Ni) > cadmi (Cd) [2]. Nghiên cứu này cũng chỉ ra phần lớn các loài thực vật đều tích tụ kim loại nặng ở rễ nhiều hơn ở phần thân và lá [2].
Tất cả các loài được khảo sát trong nghiên cứu năm 2015 đều có hệ số chuyển dịch (TF) nhỏ hơn 1 [2]. Một số loài cho thấy hệ số tích lũy sinh học (BCF) và hệ số tích lũy sinh học bề mặt (BAC) lớn hơn 1, đặc biệt là đối với Fe, Cr và Cd [2]. Điều này chứng minh rằng cây cối sinh trưởng quanh nguồn nước thải sinh hoạt có khả năng hút và lưu giữ kim loại nặng rất cao từ môi trường xung quanh, biến toàn bộ cấu trúc thân, lá, rễ thành nơi chứa chất độc tiềm ẩn [2].
Phơi sấy có làm mất đi kim loại nặng? Nghiên cứu nói gì?
Để giải đáp câu hỏi liệu quá trình phơi khô dưới nắng hay sấy nhiệt có giúp loại bỏ kim loại nặng hay không, các nhà nghiên cứu xử lý môi trường đã thực hiện nhiều thí nghiệm chuyên sâu. Các kết quả đều thống nhất rằng làm khô vật liệu hữu cơ không hề làm biến mất kim loại nặng mà chỉ làm thay đổi dạng tồn tại hóa học của chúng.
Một nghiên cứu công bố năm 2014 đã tìm hiểu sự chuyển đổi dạng tồn tại của kim loại nặng trong quá trình làm khô bùn từ các nhà máy xử lý nước thải công nghiệp và đô thị [3]. Kết quả cho thấy quá trình làm khô nhìn chung đã làm ổn định các kim loại crom (Cr), đồng (Cu), cadmi (Cd) và chì (Pb) trong bùn bằng cách chuyển hóa các dạng hòa tan trong axit, dạng khử và dạng oxy hóa thành các dạng bền vững về mặt cấu trúc [3]. Sự chuyển hóa và ổn định này diễn ra không phụ thuộc vào nguồn gốc và loại bùn, chủ yếu do sự phân hủy chất hữu cơ và sunfua khi độ ẩm, nhiệt độ và độ dẫn điện thay đổi [3]. Như vậy, phơi sấy nhiệt chỉ cố định kim loại nặng vào chất nền hữu cơ khô chứ không hề làm thất thoát hay triệt tiêu chúng [3].
Tương tự, một nghiên cứu thực nghiệm tại một nhà máy xử lý bùn thải ở tỉnh An Huy (Trung Quốc) công bố năm 2021 đã theo dõi quá trình phân hủy kỵ khí kết hợp phơi khô bằng năng lượng mặt trời [4]. Kết quả ghi nhận quá trình phơi nắng làm giảm độ ẩm và tăng nồng độ chất dinh dưỡng cùng với sự bay hơi của chất hữu cơ ở nhiệt độ cao [4]. Trong khi đó, không có mối tương quan đáng kể nào giữa kim loại nặng và các tính chất của bùn ngoại trừ độ dẫn điện [4]. Điều này một lần nữa khẳng định kim loại nặng không bị mất đi qua việc phơi nắng mà vẫn tồn lưu trong khối vật chất sau khi nước đã bay hơi [4].
Độc tố nguồn nước làm biến đổi dược tính của cây thuốc
Nhiều người lầm tưởng rằng cây dược liệu dù sống ở đâu cũng giữ nguyên hoạt chất chữa bệnh. Thực tế khoa học chứng minh ngược lại: khi cây thảo mộc bị nhiễm kim loại nặng từ nguồn nước ô nhiễm, bản thân hoạt tính sinh học và các hợp chất có lợi của chúng cũng bị phá hủy hoặc biến đổi nghiêm trọng.
Một công bố khoa học năm 2024 đã phân tích toàn diện tác động của stress kim loại nặng lên hồ sơ chuyển hóa của cây thuốc [5]. Nghiên cứu chỉ ra rằng stress kim loại nặng làm gián đoạn các con đường sinh tổng hợp tự nhiên, làm thay đổi nồng độ của các chất chuyển hóa thứ cấp – vốn là thành phần tạo nên công dụng trị liệu của thảo dược [5]. Sự xáo trộn này làm suy giảm chất lượng tổng thể và hiệu lực chữa bệnh của cây thuốc [5].
Bên cạnh đó, nghiên cứu năm 2021 trên hai dạng sinh thái (Baft và Ramjerd) của cây cam thảo (Glycyrrhiza glabra L.) khi chịu stress kim loại nặng ở các mức đối chứng, 300 mg/kg Pb + 20 mg/kg Cd (H1) và 600 mg/kg Pb + 40 mg/kg Cd (H2) đã ghi nhận sự sụt giảm khối lượng chất khô của chồi ở cả hai dòng, lần lượt là 7,05% và 43,34% so với đối chứng [6]. Mặc dù nồng độ kim loại nặng tăng lên khiến tổng hoạt tính chống oxy hóa và tổng hàm lượng phenol trong cây tăng nhằm chống chọi stress, nhưng cây phải gánh chịu lượng tích lũy cadmi và chì rất lớn trong các bộ phận rễ và thân [6].
Như vậy, nguồn nước ô nhiễm không chỉ "nhồi" kim loại nặng vào cây mà còn làm suy giảm sự phát triển tự nhiên của cây, biến một loài thảo dược bổ dưỡng thành một loại cây chứa đầy tạp chất độc hại [6], [5].
Rủi ro sức khỏe khi sắc uống thảo dược nhiễm kim loại nặng
Khi người dân phơi khô cây diễm mao thu hái từ nguồn nước nhiễm bẩn rồi sắc lấy nước uống mỗi ngày, toàn bộ lượng kim loại nặng tích tụ trong mô thực vật sẽ được chiết xuất một phần vào nước hoặc đi vào đường tiêu hóa khi uống cả cặn thuốc. Kim loại nặng không mùi, không vị nên người uống hoàn toàn không cảm nhận được mối nguy hiểm ngay tức thì.
Một nghiên cứu thực hiện năm 2023 tại Pretoria (Nam Phi) đã sử dụng phương pháp khối phổ plasma cảm ứng cao tần (ICP-MS) để phân tích hàm lượng kim loại nặng trong các mẫu cây dược liệu được các thầy thuốc truyền thống dùng điều trị bệnh [7]. Kết quả phát hiện nồng độ các kim loại gồm asen (As) từ dưới 0,2 đến 1,04 mg/kg; cadmi (Cd) từ 0,02 đến 0,167 mg/kg; chì (Pb) từ 0,38 đến 2,27 mg/kg; crom (Cr) từ 5,31 đến 26,9 mg/kg; riêng thủy ngân (Hg) dưới 0,02 mg/kg [7]. Nồng độ trung bình của tất cả các kim loại nặng được phân tích đều vượt quá giới hạn cho phép, ngoại trừ thủy ngân [7].
Nghiên cứu tại Nam Phi năm 2023 cũng chỉ ra rằng mặc dù chỉ số nguy cơ riêng lẻ (THQ) của từng kim loại đều nhỏ hơn 1 cho thấy chưa có rủi ro phi ung thư rõ ràng ngay lập tức, nhưng chỉ số sức khỏe tổng hợp (HI) qua đường tiêu hóa lại lớn hơn 1 [7]. Điều này chứng minh rằng việc uống thảo dược chứa hỗn hợp nhiều kim loại nặng sẽ gây ra nguy cơ sức khỏe nghiêm trọng khi sử dụng kéo dài do hiệu ứng tích lũy phối hợp [7]. Kim loại nặng khi vào cơ thể sẽ lắng đọng dần tại gan, thận, xương và hệ thần kinh, dẫn đến suy giảm chức năng nội tạng mạn tính mà người bệnh khó lòng phát hiện sớm [1], [7].
Ngoài ra, nhiều nghiên cứu sinh thái học năm 2023 cũng cho thấy các loài thực vật hoang dã có khả năng hấp thu và ổn định nhiều kim loại độc hại cùng lúc như chì, asen, niken, crom hay đồng từ đất và bùn mỏ [8]. Do đó, việc tự ý thu hái cây mọc hoang dã để uống là hành động trực tiếp đưa các chất ô nhiễm công nghiệp vào cơ thể.
Ai cần tuyệt đối thận trọng?
Bất kỳ ai cũng có thể trở thành nạn nhân của việc ngộ độc kim loại nặng tích lũy từ thảo dược ô nhiễm. Tuy nhiên, một số nhóm đối tượng đặc biệt sau đây cần tuyệt đối tránh xa các loại cây cỏ tự hái không rõ nguồn gốc:
- Người có bệnh lý nền về gan và thận: Gan và thận là hai cơ quan chính đảm nhiệm vai trò lọc và đào thải độc chất. Khi chức năng nội tạng đã suy giảm, lượng kim loại nặng như chì, cadmi hay crom từ nước sắc thảo dược sẽ nhanh chóng tích tụ ở mức độc hại, đẩy nhanh tiến trình suy gan, suy thận mạn tính.
- Phụ nữ mang thai và phụ nữ đang cho con bú: Chì, cadmi và asen có khả năng truyền qua nhau thai hoặc bài tiết qua sữa mẹ, gây dị tật bẩm sinh, tổn thương hệ thần kinh non nớt và cản trở sự phát triển trí tuệ của thai nhi và trẻ nhỏ.
- Trẻ em: Hệ thống chuyển hóa và hàng rào máu não của trẻ chưa hoàn thiện, khiến mức độ nhạy cảm trước độc tính của kim loại nặng cao gấp nhiều lần so với người trưởng thành.
- Người mắc bệnh mạn tính đang điều trị bằng thuốc tây: Sự hiện diện của các kim loại nặng và các chất chuyển hóa biến đổi trong cây ô nhiễm có thể tương tác bất lợi với thuốc điều trị, gây độc cho gan hoặc làm mất tác dụng của thuốc [1], [5].
Hướng dẫn sử dụng thảo dược an toàn trong đời sống
Để bảo vệ sức khỏe cho bản thân và gia đình khi sử dụng thảo dược tự nhiên, người dân cần thay đổi nhận thức và tuân thủ các nguyên tắc an toàn nghiêm ngặt sau:
- Tuyệt đối không thu hái cây cỏ ven nguồn nước ô nhiễm: Không hái diễm mao hay bất kỳ loại cây thuốc nào mọc hoang ở bờ kênh, cống rãnh, vùng nước thải sinh hoạt, gần khu công nghiệp, mỏ khoáng sản hoặc ruộng đồng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật [1], [2].
- Không tin vào quan niệm phơi khô khử được mọi độc tố: Cần hiểu rõ phơi nắng và sắc nước chỉ giải quyết được một phần vi sinh vật bề mặt, không thể loại trừ kim loại nặng và độc chất vô cơ [3], [4].
- Lựa chọn nguồn dược liệu chuẩn hóa: Chỉ sử dụng các loại thảo dược có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, được nuôi trồng theo tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt (như GACP-WHO) tại các vùng thổ nhưỡng và nguồn nước đã được kiểm nghiệm an toàn định kỳ [1].
- Sơ chế đúng cách đối với thảo dược sạch: Với thảo mộc an toàn, trước khi phơi cần rửa sạch nhiều lần dưới vòi nước chảy để loại bỏ bùn đất bám ngoài rễ và thân, sau đó phơi trên giàn cao ráo, tránh bụi bẩn và khói xe.
- Tham khảo ý kiến thầy thuốc chuyên khoa: Khi có nhu cầu dùng dược liệu để bồi bổ hoặc hỗ trợ điều trị bệnh, cần được bác sĩ y học cổ truyền bắt mạch, kê đơn và hướng dẫn liều lượng cụ thể; không tự ý nghe theo lời mách bảo dân gian.
Tóm lại, cây diễm mao hay bất kỳ loại thảo dược nào sinh trưởng tại nguồn nước ô nhiễm đều tích lũy kim loại nặng bền vững trong từng tế bào [1], [2]. Quá trình phơi khô dưới nắng hay đun sôi sắc thuốc hoàn toàn bất lực trong việc loại bỏ các độc chất này [3], [4]. Hãy là người tiêu dùng thông thái, lựa chọn dược liệu từ nguồn gốc sạch và an toàn để bảo vệ sức khỏe dài lâu cho cả gia đình.




