Sữa đậu nành và các chế phẩm từ đậu nành là món ăn quen thuộc trong bữa cơm của nhiều gia đình Việt Nam. Tuy nhiên, không ít phụ nữ từng có khối u ở vú hoặc đã trải qua điều trị ung thư vú lại ngậm ngùi gạch bỏ thức uống này khỏi thực đơn vì lo ngại hợp chất phytoestrogen có thể kích thích tế bào u phát triển trở lại. Nỗi hoang mang này bắt nguồn từ việc đậu nành chứa các hợp chất có cấu trúc tương tự nội tiết tố nữ, khiến người bệnh lo sợ "nuôi" khối u.

Thực tế, các bằng chứng y khoa hiện đại đã chỉ ra rằng phụ nữ có tiền sử bệnh lý tuyến vú không cần phải kiêng khem đậu nành một cách tuyệt đối [1]. Việc sử dụng thực phẩm từ đậu nành tự nhiên ở mức độ vừa phải không làm tăng nguy cơ tái phát bệnh mà ngược lại, còn ghi nhận nhiều tác động tích cực đối với sức khỏe và tiên lượng sống [1].

Cơ chế tác động của phytoestrogen trong cơ thể người

Đậu nành là nguồn thực phẩm tự nhiên đặc biệt dồi dào isoflavone, một nhóm hợp chất tự nhiên có khả năng gắn kết vào các thụ thể estrogen của cơ thể [1]. Do có cấu trúc phân tử tương đồng với hormone estrogen nội sinh, isoflavone từ lâu đã được phân loại vào nhóm phytoestrogen, tức estrogen có nguồn gốc thực vật [2]. Chính đặc tính này đã dấy lên mối lo ngại rằng chúng có thể gây kích thích mô tuyến vú tương tự như hormone estrogen tự nhiên [1].

Tuy nhiên, các nghiên cứu chuyên sâu đã làm sáng tỏ rằng isoflavone vừa mang đặc tính giống estrogen nhưng đồng thời cũng có tính chất kháng estrogen và phòng chống ung thư [3]. Khi đi vào cơ thể, isoflavone có thể cạnh tranh vị trí gắn kết trên các thụ thể tế bào với estrogen nội sinh mạnh hơn, từ đó làm giảm bớt hoạt tính kích thích tế bào của hormone tự nhiên [2]. Đáng chú ý, các nghiên cứu lâm sàng diện rộng trên người cho thấy cả thực phẩm đậu nành lẫn isoflavone tinh chế đều không làm thay đổi mật độ mô vú trên phim chụp nhũ ảnh cũng như không làm tăng chỉ số phân chia tế bào vú [1]. Điều này hoàn toàn khác biệt với các thử nghiệm trước đây trên chuột bị cắt buồng trứng vốn ghi nhận hiện tượng khối u nhạy cảm nội tiết phát triển khi tiếp xúc isoflavone [1].

Các nghiên cứu quy mô lớn nói gì về đậu nành và nguy cơ tái phát?

Để đánh giá chính xác tác động thực tế của đậu nành đối với bệnh nhân từng mắc bệnh lý tuyến vú, nhiều công trình nghiên cứu dịch tễ học quy mô lớn đã được tiến hành trên hàng nghìn người bệnh trong nhiều năm qua.

Một nghiên cứu phân tích tổng hợp công bố năm 2011 đã tổng hợp dữ liệu từ các nghiên cứu tiến cứu được lập chỉ mục trên hệ thống cơ sở dữ liệu PubMed tính đến tháng 9 năm 2010 [4]. Các nhà khoa học đã phân tích 14 nghiên cứu về tỷ lệ mắc mới và 4 nghiên cứu về nguy cơ tái phát ung thư vú [4]. Kết quả cho thấy lượng tiêu thụ isoflavone đậu nành có mối liên quan nghịch đảo với tỷ lệ mắc ung thư vú nói chung, với chỉ số nguy cơ tương đối RR là 0,89 (khoảng tin cậy 95%: 0,79 - 0,99) [4]. Đáng chú ý, hiệu quả bảo vệ của đậu nành thể hiện rõ rệt ở quần thể phụ nữ châu Á với RR là 0,76 (khoảng tin cậy 95%: 0,65 - 0,86), trong khi không ghi nhận mối liên hệ này ở phụ nữ phương Tây với RR là 0,97 (khoảng tin cậy 95%: 0,87 - 1,06) [4]. Riêng đối với nguy cơ tái phát bệnh, lượng tiêu thụ isoflavone cũng liên quan nghịch với tỷ lệ tái phát với RR là 0,84 (khoảng tin cậy 95%: 0,70 - 0,99) [4].

Tiếp đó, một nghiên cứu công bố năm 2010 theo dõi lượng tiêu thụ thực phẩm đậu nành sau chẩn đoán đã chỉ ra rằng đạm đậu nành có mối liên quan nghịch đảo với tỷ lệ tử vong và tái phát [5]. Khi so sánh giữa nhóm tiêu thụ đạm đậu nành cao nhất với nhóm thấp nhất, tỷ số nguy cơ HR đối với tỷ lệ tử vong chung là 0,67 (khoảng tin cậy 95%: 0,51 - 0,88) và đối với nguy cơ tái phát là 0,66 (khoảng tin cậy 95%: 0,52 - 0,84) [5]. Nếu tính theo lượng isoflavone đậu nành nạp vào, HR tương ứng là 0,76 đối với tử vong và 0,74 đối với tái phát [5]. Mối liên hệ thuận lợi này diễn ra theo mô hình liều lượng tuyến tính cho đến khi lượng đạm đậu nành đạt 11 gam mỗi ngày, tương đương 40 miligam isoflavone mỗi ngày, sau đó hiệu quả bắt đầu đi ngang hoặc hồi phục nhẹ [5]. Mối liên quan này được ghi nhận đồng thời ở cả phụ nữ có thụ thể nội tiết dương tính lẫn âm tính, không phụ thuộc vào tình trạng mãn kinh hay giai đoạn bệnh [5].

Cũng trong năm 2012, dự án tổng hợp dữ liệu After Breast Cancer Pooling Project đã tiến hành phân tích trên 9.514 phụ nữ từng mắc ung thư vú xâm lấn trong giai đoạn từ 1991 đến 2006, kết hợp dữ liệu từ 2 đoàn hệ tại Mỹ và 1 đoàn hệ tại Trung Quốc [3]. Sau thời gian theo dõi trung bình 7,4 năm, các nhà nghiên cứu ghi nhận 1.171 trường hợp tử vong và 1.348 trường hợp tái phát [3]. Kết quả phân tích gộp cho thấy mức tiêu thụ từ 10 miligam isoflavone mỗi ngày trở lên liên quan đến việc giảm nguy cơ tử vong do ung thư vú với HR là 0,83 và giảm có ý nghĩa thống kê nguy cơ tái phát với HR là 0,75 (khoảng tin cậy 95%: 0,61 - 0,92) [3]. Xu hướng giảm tái phát này xuất hiện nhất quán ở cả phụ nữ Mỹ và phụ nữ Trung Quốc [3].

Tương tác giữa đậu nành và các liệu pháp điều trị nội tiết

Một trong những mối bận tâm lớn nhất của bệnh nhân có thụ thể nội tiết dương tính là liệu đậu nành có triệt tiêu hay làm giảm tác dụng của các thuốc điều trị nội tiết tố như tamoxifen hoặc nhóm ức chế men aromatase hay không.

Nghiên cứu LACE công bố năm 2012 đã theo dõi tiến cứu một đoàn hệ gồm 1.954 nữ bệnh nhân sống sót sau ung thư vú trong khoảng thời gian trung bình 6,31 năm và xác định 282 ca tái phát [2]. Kết quả ghi nhận xu hướng giảm nguy cơ tái phát khi tăng mức tiêu thụ các loại isoflavone như daidzein và glycetin ở phụ nữ sau mãn kinh và ở những người đang điều trị bằng thuốc tamoxifen [2]. Đáng kể nhất, ở nhóm phụ nữ sau mãn kinh đang dùng tamoxifen, nhóm có mức tiêu thụ daidzein cao nhất (trên 1.453 microgam mỗi ngày) ghi nhận mức giảm nguy cơ tái phát khoảng 60% so với nhóm thấp nhất (dưới 7,7 microgam mỗi ngày), với chỉ số HR đạt 0,48 (khoảng tin cậy 95%: 0,21 - 0,79, P = 0,008) [2]. Nhóm nghiên cứu kết luận rằng lượng isoflavone tương đương khẩu phần ăn truyền thống của người châu Á không hề can thiệp hay cản trở hiệu quả điều trị của thuốc tamoxifen [2].

Một nghiên cứu khác vào năm 2010 thực hiện trên 524 bệnh nhân đã phẫu thuật ung thư vú và đang tiếp nhận liệu pháp nội tiết bổ trợ, được theo dõi trong thời gian trung vị 5,1 năm [6]. Ở nhóm bệnh nhân tiền mãn kinh, lượng isoflavone không ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong với HR là 1,05 khi so sánh nhóm tiêu thụ cao trên 42,3 miligam mỗi ngày với nhóm dưới 15,2 miligam mỗi ngày [6]. Ngược lại, ở nhóm phụ nữ sau mãn kinh, những người thuộc nhóm tiêu thụ isoflavone cao nhất có nguy cơ tái phát thấp hơn đáng kể so với nhóm thấp nhất, với HR là 0,67 (khoảng tin cậy 95%: 0,54 - 0,85, P = 0,02) [6]. Mối liên quan nghịch đảo này được quan sát thấy rõ rệt ở bệnh nhân có khối u dương tính với thụ thể estrogen và progesterone, đặc biệt là những người đang dùng thuốc anastrozole [6].

Tổng quan y khoa năm 2012 cũng nhấn mạnh rằng các loại thực phẩm từ đậu nành khi được tiêu thụ ở mức độ tương đồng với chế độ ăn của người châu Á không gây tác động tiêu cực đến nguy cơ tái phát, đồng thời không gây cản trở các liệu pháp tamoxifen hay anastrozole [7]. Tổng quan cập nhật năm 2025 cũng tái khẳng định các dữ liệu quan sát không cho thấy isoflavone làm suy giảm hiệu quả của tamoxifen hay các thuốc ức chế aromatase [1].

Lợi ích thực tế và giới hạn của các bằng chứng khoa học

Dù các số liệu thống kê đều mang lại góc nhìn rất tích cực, người bệnh vẫn cần nhìn nhận đúng đắn các giá trị và mặt hạn chế của các bằng chứng hiện có.

Điểm mạnh của các bằng chứng là phần lớn dữ liệu đến từ các nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu dài hạn trên hàng nghìn phụ nữ ở cả phương Đông và phương Tây [4] [3]. Các nghiên cứu này ghi nhận thực phẩm đậu nành truyền thống có độ an toàn cao và hỗ trợ cải thiện tỷ lệ sống sót cũng như giảm nguy cơ bệnh tái phát [5] [1]. Hơn nữa, đậu nành còn là nguồn cung cấp đạm thực vật chất lượng cao, giàu chất xơ và các vi chất dinh dưỡng tốt cho tim mạch và sức khỏe chuyển hóa.

Tuy nhiên, các bằng chứng cũng tồn tại những giới hạn nhất định. Đa số các đánh giá dinh dưỡng dựa trên bảng câu hỏi tần suất tiêu thụ thực phẩm (FFQ), vốn có thể có sai số do khả năng ghi nhớ của người tham gia [8] [2]. Các nhà nghiên cứu cũng chưa tìm thấy mối quan hệ liều - đáp ứng rõ rệt đối với tỷ lệ mắc ung thư vú nói chung [4]. Do đó, các tác giả đều đồng thuận rằng cần có thêm nhiều nghiên cứu tiến cứu quy mô lớn khác trước khi đưa ra các khuyến nghị lâm sàng chính thức thay thế cho phác đồ điều trị [2] [4].

Hiểu lầm thường gặp về đậu nành và khối u tuyến vú

Hiểu lầm phổ biến nhất là đánh đồng isoflavone trong đậu nành với hormone estrogen của con người. Isoflavone chỉ là hợp chất thực vật có cấu trúc tương tự, hoạt tính sinh học yếu hơn rất nhiều lần so với hormone nội sinh và có thể cạnh tranh thụ thể để mang lại tác động kháng estrogen [2] [3].

Một hiểu lầm khác là cho rằng các thí nghiệm trên động vật chứng minh đậu nành gây hại cho người bệnh. Các nghiên cứu trên chuột bị cắt bỏ buồng trứng từng cho thấy isoflavone kích thích khối u phát triển, nhưng điều này không phản ánh đúng cơ chế chuyển hóa phức tạp ở cơ thể người [1]. Thử nghiệm lâm sàng trên người đã chứng minh isoflavone không làm tăng sinh tế bào vú hay tăng độ dày mô vú [1].

Nhiều người cũng lầm tưởng rằng đã có tiền sử u vú thì phải tuyệt đối tránh xa mọi sản phẩm chứa đậu nành. Tuy nhiên, các bằng chứng tổng hợp xác nhận phụ nữ từng mắc bệnh vẫn có thể sử dụng an toàn các thực phẩm đậu nành trong khẩu phần ăn hàng ngày [1].

Nhóm đối tượng nào cần phải thận trọng?

Dù đậu nành nhìn chung là an toàn, một số nhóm bệnh nhân đặc thù cần lưu ý về tình trạng thụ thể của khối u trước khi bổ sung lượng lớn isoflavone vào chế độ ăn.

Một nghiên cứu năm 2012 thực hiện trên 339 phụ nữ Hàn Quốc đã so sánh tác động của đậu nành đối với nguy cơ tái phát ung thư vú phân theo tình trạng thụ thể HER2 [8]. Trong số 25 bệnh nhân bị tái phát, có 17 người mang thụ thể HER2 âm tính và 8 người mang thụ thể HER2 dương tính [8]. Kết quả cho thấy lượng tiêu thụ các loại đậu (chủ yếu từ đậu nành đen) liên quan nghịch với nguy cơ tái phát ở bệnh nhân HER2 âm tính với HR là 0,27 (khoảng tin cậy 95%: 0,13 - 0,57, P < 0,01) [8]. Lượng isoflavone cũng liên quan nghịch với tái phát ở nhóm HER2 âm tính với HR là 0,23 (khoảng tin cậy 95%: 0,06 - 0,89) [8]. Tuy nhiên, ở nhóm bệnh nhân có thụ thể HER2 dương tính, lượng tiêu thụ đậu nành lại có mối liên quan thuận với nguy cơ tái phát (P = 0,02) [8]. Nghiên cứu kết luận rằng dù tổng lượng đậu nành không làm tăng nguy cơ chung, việc tiêu thụ lượng lớn isoflavone có thể làm tăng nguy cơ tái phát ở người có HER2 dương tính, dù kết quả này cần nghiên cứu thêm do số ca tái phát trong nghiên cứu còn nhỏ [8].

Bên cạnh đó, phụ nữ đang dùng thuốc điều trị hoặc có bệnh lý nền luôn cần tham khảo ý kiến của bác sĩ điều trị để được tư vấn chế độ dinh dưỡng phù hợp nhất với thể trạng và giai đoạn bệnh của mình.

Cách dùng sữa đậu nành an toàn và khoa học mỗi ngày

Để tận dụng tối đa lợi ích dinh dưỡng mà vẫn bảo đảm an toàn, người tiêu dùng nên ưu tiên các loại thực phẩm đậu nành truyền thống như sữa đậu nành tự nấu, đậu phụ non, đậu phụ truyền thống hoặc đậu tương luộc thay vì tìm đến các viên uống thực phẩm chức năng chứa isoflavone cô đặc liều cao [1].

Khuyến cáo dinh dưỡng hiện nay đề xuất người bệnh chỉ nên giới hạn mức tiêu thụ ở mức không quá hai khẩu phần thực phẩm đậu nành truyền thống mỗi ngày [1]. Lượng dùng này cung cấp khoảng 50 miligam isoflavone, tương đương một ly sữa đậu nành tự nhiên hoặc một miếng đậu phụ [1]. Mức giới hạn này được đưa ra không phải vì có bằng chứng cho thấy dùng nhiều hơn sẽ gây hại, mà đơn giản vì hầu hết các nghiên cứu cộng đồng chỉ theo dõi người tham gia ở mức tiêu thụ tương đương khoảng này [1]. Hơn nữa, nghiên cứu cũng chỉ ra hiệu quả bảo vệ đạt tối ưu khi nạp khoảng 11 gam đạm đậu nành hoặc 40 miligam isoflavone mỗi ngày và không tăng thêm khi vượt quá ngưỡng này [5].

Người dùng nên chọn sữa đậu nành nguyên chất, ít đường hoặc không đường để tránh nạp thêm năng lượng dư thừa. Không nên dùng sữa đậu nành thay thế hoàn toàn cho nước lọc hay các nguồn thực phẩm khác mà cần duy trì chế độ ăn uống cân bằng, đa dạng dưỡng chất.

Phụ nữ có tiền sử u vú hoàn toàn có thể thưởng thức sữa đậu nành hàng ngày như một phần của lối sống lành mạnh nếu tuân thủ mức độ vừa phải [1]. Việc hiểu đúng bản chất khoa học sẽ giúp người bệnh giải tỏa tâm lý lo âu, duy trì chế độ ăn uống phong phú và chủ động bảo vệ sức khỏe của bản thân một cách khoa học nhất.