Nhiều người thường trải qua cảm giác mệt mỏi, uể oải, yếu cơ hoặc táo bón nhưng chỉ nghĩ đơn giản do làm việc quá sức hay thiếu ngủ. Những biểu hiện thoáng qua này có thể bắt nguồn từ tình trạng sụt giảm kali trong máu, một rối loạn điện giải rất hay gặp nhưng dễ bị bỏ quên.
Tình trạng hạ kali máu thường âm thầm diễn ra ở những người có vấn đề đào thải qua đường tiêu hóa, người phải dùng các loại thuốc bài tiết nước tiểu hoặc người có chế độ ăn uống thiếu hụt dưỡng chất. Nếu không phát hiện kịp thời, lượng kali suy giảm kéo dài có thể gây suy giảm sức khỏe cơ bắp, rối loạn nhịp tim và làm tổn hại chức năng thận.
Kali máu và lý do cơ thể dễ bị sụt giảm âm thầm
Kali giữ vai trò thiết yếu duy trì điện thế màng tế bào, dẫn truyền xung động thần kinh, co bóp cơ tim và điều hòa hoạt động của ống thận. Khi nồng độ khoáng chất này giảm xuống dưới mức an toàn, hàng loạt hệ thống cơ quan sẽ chịu ảnh hưởng tiêu cực.
Thực tế ghi nhận có tới 20% bệnh nhân nhập viện gặp phải tình trạng hạ kali máu [1], [2]. Dù vậy, phần lớn trường hợp không có triệu chứng rõ rệt; chỉ khoảng 4% đến 5% xuất hiện triệu chứng nhận biết được như yếu cơ, buồn nôn, nôn mửa hoặc táo bón [1]. Sự thiếu vắng dấu hiệu cảnh báo rầm rộ khiến lượng lớn người bệnh sống chung với mức kali thấp mà không hề hay biết [1].
Nghiên cứu sinh học chỉ ra rằng việc thiếu hụt kali kéo dài kích thích tăng sinh chất trung gian gây viêm, stress oxy hóa và giảm tạo mạch máu mới [3]. Tình trạng này làm tăng tiết amoniac tại thận, kích hoạt thụ thể renin và angiotensin II gây co thắt mạch máu nội thận, dẫn tới thiếu máu cục bộ, xơ hóa kẽ thận và thoái hóa ống thận theo thời gian [3].
5 nhóm người đối mặt rủi ro hạ kali máu cao nhất
Dựa trên dữ liệu từ các nghiên cứu lâm sàng, có 5 nhóm đối tượng mang đặc điểm sinh lý hoặc bệnh lý đặc thù rất dễ rơi vào tình trạng thiếu kali:
Người sử dụng thuốc lợi tiểu thiazide điều trị tăng huyết áp Các loại thuốc lợi tiểu thiazide thường được kê đơn ban đầu để kiểm soát huyết áp bằng cách tăng thải trừ muối qua thận. Tác dụng phụ đi kèm là thuốc làm tăng bài tiết kali qua ống lượn xa theo liều lượng dùng [2]. Có đến 40% bệnh nhân dùng thuốc lợi tiểu thiazide phát triển biến chứng hạ kali máu [1]. Một phân tích trên 5.817 bệnh nhân ngoại trú dùng lợi tiểu dài hạn cho thấy 18,8% bị hạ kali máu dưới mức 3,5 meq/L, trong đó việc dùng thiazide là một trong những yếu tố dự báo chính [4].
Người cao tuổi, đặc biệt khi dùng thuốc lợi tiểu quai qua đường tiêm Tuổi tác cao là yếu tố nguy cơ độc lập khiến lượng điện giải sụt giảm mạnh trong quá trình điều trị y tế [5], [6]. Khảo sát đa trung tâm thực hiện trên 18.872 bệnh nhân nội trú ghi nhận tỷ lệ hạ kali máu tăng 1,30 lần sau mỗi thập kỷ tuổi (tương đương mức tăng 30% mỗi 10 năm) [5]. Rủi ro này tăng vọt ở nhóm dùng thuốc lợi tiểu quai qua đường tiêm truyền tĩnh mạch với tỷ số chênh lên tới 2,30 [5].
Bệnh nhân ung thư đại trực tràng và người chuẩn bị làm sạch ruột Người chuẩn bị nội soi đại tràng bằng dung dịch polyethylene glycol phải đối mặt với nguy cơ mất dịch và chất điện giải lớn qua đường tiêu hóa [1]. Nghiên cứu chỉ ra bệnh nhân mắc ung thư đại trực tràng có tỷ lệ hạ kali máu cao vượt trội sau khi dùng thuốc làm sạch ruột [1]. Ở bệnh nhân ung thư, tình trạng hạ kali xuất phát từ nhiều nguyên nhân kết hợp: hội chứng suy kiệt làm giảm nạp thức ăn, mất qua đường nôn ói, tiêu chảy, cùng hiện tượng tái phân phối kali vào trong tế bào khối u [1].
Người suy dinh dưỡng, chỉ số khối cơ thể thấp hoặc chạy thận nhân tạo Thiếu hụt dinh dưỡng đầu vào ảnh hưởng trực tiếp đến trữ lượng khoáng chất toàn cơ thể [3], [7]. Trong nhóm bệnh nhân lọc màng bụng mạn tính, 13,6% (15 trên 110 người) được xác định hạ kali máu kéo dài dưới 3,5 mEq/L do ăn ít đạm và không nạp đủ thực phẩm giàu kali [7]. Nồng độ albumin huyết thanh thấp và chỉ số khối cơ thể (BMI) thấp có mối tương quan thuận rõ rệt với sự sụt giảm kali trong huyết tương [3].
Nữ giới và người có tiền sử mắc các bệnh tim mạch nền Nữ giới có nguy cơ hạ kali máu cao hơn nam giới, có thể do khối lượng cơ nạc trong cơ thể phụ nữ thấp hơn [1], [6]. Mặt khác, những người có bệnh mạch vành, suy tim, bệnh tim thiếu máu cục bộ hoặc tiền sử rối loạn nhịp tim cũng rất dễ mất cân bằng điện giải khi gặp stress chuyển hóa [1], [5]. Nghiên cứu cho thấy có 7,1% bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ tim mạch cao bị hạ kali sau các can thiệp đường tiêu hóa, phần lớn liên quan đến việc dùng kèm thuốc hạ áp [1].
Các bằng chứng khoa học ghi nhận về nguy cơ sức khỏe
Nhiều công trình nghiên cứu quy mô lớn đã đo lường chính xác tác hại của hạ kali máu lên các biến cố tim mạch và chức năng thận:
Một nghiên cứu dịch tễ tiến cứu tại Hà Lan theo dõi dân số có chức năng thận bình thường ban đầu cho thấy, hạ kali máu làm tăng vọt nguy cơ phát triển bệnh thận mạn tính (CKD) [8]. Nguy cơ mắc bệnh thận mạn ở người bị hạ kali máu cao gấp 4,32 lần ở nhóm có dùng thuốc lợi tiểu và tăng tới 7,74 lần ở nhóm không hề dùng thuốc lợi tiểu, so với những người có mức kali máu bình thường [8]. Khi phân tích nhóm dùng lợi tiểu làm mất kali, nguy cơ mắc bệnh thận mạn vẫn cao gấp 4,24 lần [8].
Nghiên cứu theo dõi năm 2013 trên nhóm bệnh nhân thận mạn khẳng định hạ kali máu là yếu tố dự báo độc lập thúc đẩy bệnh thận tiến triển xấu nhanh hơn [3]. Về mặt tim mạch, nghiên cứu năm 2021 về đau thắt ngực co thắt mạch ghi nhận biến chứng hạ kali máu làm gia tăng hoạt hóa hệ thần kinh thể dịch [2]. Sự phối hợp giữa việc dùng thuốc lợi tiểu và nồng độ kali máu thấp có thể tạo ra tác động cộng hưởng làm tăng nguy cơ đột tử do tim ở người tăng huyết áp [2].
Ngoài ra, nghiên cứu đánh giá tỷ lệ sống sót năm 2012 trên bệnh nhân thẩm phân phúc mạc ghi nhận tỷ lệ tử vong ở nhóm hạ kali máu cao hơn hẳn nhóm bình thường với mức ý nghĩa thống kê p = 0,002 [7]. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng lưu ý giới hạn rằng các nghiên cứu quan sát chưa thể chứng minh trọn vẹn mối quan hệ nhân quả tuyệt đối giữa hạ kali đơn thuần và biến cố tử vong, do tình trạng này thường đi kèm với suy dinh dưỡng nặng hoặc nhiều bệnh lý nền phức tạp [8], [3], [7].
Những hiểu lầm thường gặp về hạ kali máu
Nhiều người nghĩ rằng chỉ khi bị tiêu chảy dữ dội hoặc dùng thuốc quá liều thì kali mới bị sụt giảm. Trên thực tế, ngay cả chế độ ăn uống thiếu cân đối kéo dài kết hợp các đợt căng thẳng thể chất thông thường cũng có thể làm kali dịch chuyển vào trong tế bào hoặc thất thoát qua thận [3], [2].
Một ngộ nhận khác là bệnh thận chỉ sợ tăng kali máu, còn kali thấp thì vô hại. Các phát hiện mới nhất đã chứng minh hạ kali máu là yếu tố nguy cơ dẫn đến tổn thương cấu trúc thận, gây hình thành các nang tủy thận, thoái hóa tế bào ống thận và làm xơ hóa mô kẽ dẫn tới suy giảm chức năng thận tiến triển [8], [3].
Không ít người cho rằng cơ thể thiếu chất sẽ lập tức báo hiệu bằng các cơn co rút cơ hay chuột rút nghiêm trọng. Song dữ liệu lâm sàng chứng minh chỉ một tỷ lệ nhỏ khoảng 4-5% bệnh nhân có triệu chứng cảnh báo rõ rệt, đa số diễn tiến hoàn toàn im lặng [1].
Nhóm đối tượng cần đặc biệt thận trọng
Những người lớn tuổi, phụ nữ đang dùng thuốc hạ áp, và người mắc bệnh tiểu đường, bệnh mạch vành hoặc suy tim cần được giám sát mức điện giải chặt chẽ [5], [6]. Nếu xuất hiện các triệu chứng như nôn ói nhiều ngày, ăn uống kém hoặc trước khi thực hiện quy trình thụt tháo đại tràng, người bệnh cần thông báo ngay cho nhân viên y tế [1], [6].
Bệnh nhân suy thận mạn tính hoặc đang lọc máu tuyệt đối không được tự ý bổ sung kali bằng thuốc hay muối thay thế [3], [7]. Nồng độ kali máu vượt quá 5 mEq/L ở nhóm này đã được chứng minh làm tăng tỷ lệ suy thận giai đoạn cuối [3]. Mọi can thiệp điều chỉnh điện giải trên người có bệnh nền đều phải qua xét nghiệm máu và có hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa [8], [4].
Hướng dẫn điều chỉnh chế độ ăn uống và lối sống
Đối với người có nguy cơ nhẹ hoặc cần phòng ngừa mất kali do dùng thuốc lợi tiểu liều thấp, việc áp dụng chế độ ăn uống cân bằng đóng vai trò chủ đạo [6].
- Ưu tiên chế độ ăn giảm muối nhưng giàu khoáng chất tự nhiên như kali, magiê và clorua thông qua các loại rau xanh, trái cây tươi hoặc thực phẩm bổ sung vi chất phù hợp [6].
- Người đang kiểm soát huyết áp nhẹ đến trung bình nên trao đổi với bác sĩ để cân nhắc dùng thuốc lợi tiểu tác dụng ngắn ở liều thấp nhất có hiệu quả nhằm hạn chế bài tiết kali qua nước tiểu [6].
- Trong trường hợp hạ kali máu vẫn tái diễn, bác sĩ có thể chỉ định chuyển đổi sang dòng thuốc lợi tiểu giữ kali như spironolactone hoặc thay thế bằng nhóm thuốc hạ áp khác [6].
- Nhóm người cao tuổi điều trị nội trú bằng thuốc lợi tiểu dạng tiêm cần được lấy mẫu máu xét nghiệm điện giải định kỳ để phát hiện và bù dịch kịp thời [5], [4].
Việc duy trì nồng độ kali trong máu ở ngưỡng an toàn là một mắt xích trọng yếu giúp bảo vệ sức khỏe hệ tim mạch và bảo tồn chức năng thận dài lâu. Chủ động nhận biết các yếu tố nguy cơ, kiểm tra sức khỏe định kỳ và thực hiện chế độ dinh dưỡng lành mạnh sẽ giúp ngăn ngừa hiệu quả các biến chứng nguy hiểm do hạ kali máu gây ra.












