Thói quen uống trà sữa, nước ngọt có ga hay nước trái cây đóng hộp mỗi ngày rất phổ biến ở cả người trẻ lẫn dân văn phòng. Nhiều người tự hỏi điều gì sẽ xảy ra với cơ thể nếu quyết định cắt bỏ hoàn toàn các loại thức uống ngọt này trong một tháng.
Khi ngừng nạp đồ uống có đường (SSB), cơ thể lập tức giảm lượng lớn đường và năng lượng dư thừa, từ đó cải thiện đường huyết, giảm mỡ máu (triglyceride), tăng mỡ tốt (HDL-cholesterol) và giảm các chỉ số viêm [1] [2] [3]. Tuy nhiên, trong vài ngày đầu tiên, người cắt giảm đột ngột có thể đối mặt với hội chứng cai đường gồm đau đầu, thèm ngọt và giảm khả năng tập trung [3].
Cơ chế tác động lên đường huyết và mỡ máu
Đồ uống có đường là nguồn cung cấp đường bổ sung lớn nhất trong chế độ ăn tại nhiều quốc gia [3]. Khi đi vào cơ thể, lượng đường lỏng này gây ra các tác động bất lợi lên đường huyết và làm tăng quá trình chuyển hóa đường fructose tại gan [4]. Quá trình này thúc đẩy gan sản xuất nhiều chất béo hơn, dẫn đến rối loạn các chỉ số lipid máu và tăng tích tụ mỡ nội tạng [4] [5].
Việc tiêu thụ thường xuyên thức uống ngọt làm tăng nồng độ đường trong máu khi đói, tăng nồng độ hormone insulin và dẫn đến tình trạng kháng insulin [6] [7]. Kháng insulin là trạng thái tế bào giảm nhạy cảm với hormone này, buộc tuyến tụy phải hoạt động quá mức và lâu dài dẫn đến bệnh đái tháo đường tuýp 2 [4] [7]. Đồng thời, đường lỏng làm tăng chất béo trung tính (triglyceride) và làm giảm nồng độ cholesterol tỷ trọng cao (HDL-cholesterol - loại mỡ tốt giúp bảo vệ mạch máu) [1] [2] [7].
Ngoài đường huyết và mỡ máu, đồ uống có đường còn kích hoạt các phản ứng viêm âm thầm trong cơ thể [1] [4]. Nghiên cứu ghi nhận người hay uống nước ngọt có nồng độ protein phản ứng C (CRP - chỉ số báo hiệu tình trạng viêm) và các phân tử kết dính tế bào mạch máu cao hơn bình thường [1] [6]. Khi ngừng nạp các thức uống này, gánh nặng chuyển hóa tại gan và mạch máu được giải phóng, giúp các chỉ số sinh học dần trở về ngưỡng an toàn [4] [5].
Nghiên cứu khoa học nói gì về tác hại của nước ngọt?
Các bằng chứng dịch tễ học và thử nghiệm lâm sàng đều chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa đồ uống có đường và rối loạn chuyển hóa tim mạch ở nhiều lứa tuổi [4]. Một nghiên cứu cắt ngang công bố năm 2014 đã phân tích dữ liệu của 4.880 trẻ em Mỹ từ 3 đến 11 tuổi tham gia Khảo sát Kiểm tra Sức khỏe và Dinh dưỡng Quốc gia giai đoạn 1999-2004 [1]. Sau khi hiệu chỉnh các yếu tố độ tuổi, giới tính, vận động và tổng năng lượng, kết quả cho thấy việc tăng uống nước ngọt có liên quan độc lập với tăng chỉ số viêm CRP (P=0,003), tăng vòng eo (P=0,04) và giảm mỡ tốt HDL-cholesterol (P=0,001) [1]. Giới hạn của nghiên cứu là thiết kế cắt ngang nên cần thêm các nghiên cứu theo dõi dọc theo thời gian để xác định quan hệ nhân quả [1].
Tại châu Á, một nghiên cứu năm 2017 thực hiện trên 873 thanh thiếu niên 13 tuổi ở Malaysia cũng cho kết quả tương tự [7]. Lượng tiêu thụ đồ uống có đường trung bình của nhóm này là 177,5 mL mỗi ngày [7]. Dù đã loại trừ ảnh hưởng của chỉ số khối cơ thể (BMI), chế độ ăn và mức độ vận động, thói quen uống nước ngọt vẫn liên quan trực tiếp đến tăng vòng eo, tăng triglyceride, tăng đường huyết lúc đói, tăng insulin, kháng insulin và giảm HDL-cholesterol [7]. Nghiên cứu có giới hạn là lượng tiêu thụ thức uống và mức vận động được thu thập qua hình thức tự báo cáo [7].
Ở nhóm tuổi từ 4 đến 18 tuổi, một nghiên cứu năm 2018 tại Anh trên 1.687 trẻ em và thanh thiếu niên thuộc Chương trình Khảo sát Dinh dưỡng và Chế độ ăn Quốc gia (2008-2012) đã đo lường cụ thể mức biến động sinh học [2]. Vào những ngày có uống nước ngọt, người tham gia nạp nhiều hơn trung bình 216 kcal năng lượng và 7% lượng đường so với ngày không uống [2]. Việc tiêu thụ đồ uống có đường làm tăng đường huyết thêm 0,30 mmol/L và tăng mỡ máu triglyceride thêm 0,29 mmol/L so với người không uống [2].
Đối với người trưởng thành, nghiên cứu cắt ngang năm 2019 đã phân tích dữ liệu của 8.492 phụ nữ Mỹ không mắc bệnh tiểu đường hay tim mạch từ Nghiên cứu Sức khỏe Y tá (Nurses' Health Study) [6]. Kết quả chỉ ra tần suất uống nước ngọt càng cao thì nồng độ triglyceride, insulin, chỉ số viêm CRP, tỷ lệ cholesterol toàn phần trên HDL-cholesterol và protein gan fetuin-A càng tăng, trong khi HDL-cholesterol giảm xuống [6]. Một tổng quan hệ thống năm 2017 cũng khẳng định đồ uống có đường làm tăng nguy cơ đái tháo đường tuýp 2 và bệnh mạch vành độc lập với tình trạng thừa cân hay béo phì [4].
Chuyện gì xảy ra khi ngừng uống nước ngọt?
Khi bắt đầu cắt bỏ đồ uống có đường, thay đổi rõ rệt nhất diễn ra ngay trong những ngày đầu tiên là sự sụt giảm mạnh lượng đường nạp vào và xuất hiện các triệu chứng cai [3]. Một nghiên cứu thăm dò năm 2020 đã theo dõi 25 thanh thiếu niên thừa cân, béo phì (tuổi từ 13 đến 18, 72% là nữ) vốn có thói quen uống từ 3 phần nước ngọt trở lên mỗi ngày [3]. Những người này được yêu cầu ngừng hoàn toàn nước ngọt trong 3 ngày và chỉ uống nước lọc hoặc sữa tươi không đường [3].
Kết quả ghi nhận qua nhật ký ăn uống cho thấy tổng lượng đường tiêu thụ hàng ngày của người tham gia giảm trung bình 80 g, trong đó đường bổ sung giảm 16 g (P<0,001) [3]. Tuy nhiên, cả caffeine và đường trong nước ngọt đều có đặc tính gây nghiện [3]. Trong 3 ngày ngừng uống, nhóm thiếu niên xuất hiện các triệu chứng cai rõ rệt gồm đau đầu, tăng cảm giác thèm nước ngọt, giảm động lực, giảm sự hài lòng, khó tập trung và giảm cảm giác khỏe khoắn nói chung [3]. Sau khi kiểm soát tỷ lệ phát hiện sai trong thống kê, các biểu hiện tăng thèm ngọt, giảm động lực và giảm cảm giác khỏe khoắn vẫn có ý nghĩa thống kê rõ rệt [3].
Khi duy trì việc thay thế đồ uống có đường từ 2 tuần trở lên (tương đương lộ trình 30 ngày), các chỉ số cơ thể bắt đầu cải thiện tích cực [5]. Một phân tích gộp công bố năm 2022 tổng hợp dữ liệu từ 17 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) kéo dài ít nhất 2 tuần ở người lớn thừa cân hoặc béo phì (có hoặc không mắc tiểu đường) [5]. Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của việc thay thế nước ngọt bằng nước lọc hoặc đồ uống tạo ngọt ít/không calo (LNCSB) [5]. Kết quả chứng minh việc ngừng nước ngọt để chuyển sang nước lọc hoặc LNCSB giúp giảm cân nặng, giảm chỉ số BMI, giảm tỷ lệ mỡ cơ thể và giảm lượng mỡ tích tụ trong tế bào gan (intrahepatocellular lipid) [5].
Lợi ích và giới hạn của bằng chứng khoa học
Các bằng chứng hiện tại rất nhất quán về lợi ích của việc cắt giảm đồ uống có đường đối với sức khỏe tim mạch và chuyển hóa [4] [5]. Các thử nghiệm ngắn hạn và trung hạn (từ 2 tuần trở lên) cho thấy việc loại bỏ đường lỏng giúp cải thiện cân nặng, giảm mỡ gan và ổn định các dấu ấn sinh học như đường huyết, lipid máu, huyết áp và các cytokine gây viêm [4] [5]. Lợi ích bảo vệ tim mạch và phòng ngừa tiểu đường tuýp 2 của việc giảm nước ngọt xảy ra ngay cả khi cân nặng chưa thay đổi nhiều [4].
Tuy nhiên, độc giả cần hiểu rõ giới hạn của các nghiên cứu để có kỳ vọng thực tế. Nhiều dữ liệu về mối liên quan giữa nước ngọt và chỉ số mỡ máu, đường huyết đến từ các nghiên cứu cắt ngang (quan sát tại một thời điểm), do đó không phản ánh toàn bộ diễn tiến từng ngày trong suốt 30 ngày ở mọi cá nhân [1] [6] [7]. Nghiên cứu về hội chứng cai đường mới chỉ thực hiện trong thời gian ngắn (3 ngày) với cỡ mẫu nhỏ (25 người) ở nhóm tuổi thanh thiếu niên uống nhiều nước ngọt [3]. Dù vậy, sự kết hợp giữa nghiên cứu dịch tễ lớn và các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên đã đủ mạnh để khuyến cáo ngừng tiêu thụ thức uống này [4] [5].
Những hiểu lầm thường gặp khi tìm đồ uống thay thế
Hiểu lầm phổ biến nhất là chuyển từ nước ngọt có đường sang nước ngọt ăn kiêng (sử dụng chất tạo ngọt nhân tạo - ASB) với suy nghĩ hoàn toàn vô hại [2] [8]. Dù phân tích gộp năm 2022 cho thấy đồ uống ít hoặc không calo (LNCSB) có thể dùng làm bước đệm thay thế nước ngọt để giảm cân và mỡ gan trong trung hạn ở người thừa cân [5], nhiều nghiên cứu khác lại cảnh báo rủi ro tiềm ẩn của chất tạo ngọt nhân tạo [2] [6] [8].
Cụ thể, nghiên cứu năm 2018 tại Anh cho thấy trẻ uống nước ngọt nhân tạo (ASB) vẫn có mức đường huyết cao hơn 0,24 mmol/L so với nhóm không uống [2]. Đáng chú ý, ở các bé trai uống ASB, lượng đường nạp vào từ thức ăn đặc lại tăng thêm 1,7% [2]. Một nghiên cứu năm 2017 trên người trưởng thành trẻ tuổi giải thích rằng chất tạo ngọt nhân tạo có thể kích thích cảm giác thèm ăn, khiến người dùng ăn nhiều thực phẩm giàu năng lượng hơn và làm giảm khả năng ước tính chính xác lượng calo nạp vào [8]. Ngoài ra, tiêu thụ ASB còn liên quan đến việc tăng nhẹ chỉ số viêm CRP ở phụ nữ và làm tăng gánh nặng sinh lý tích lũy (allostatic load) dẫn đến hội chứng chuyển hóa [6] [8].
Hiểu lầm thứ hai là thay thế nước ngọt bằng nước trái cây nguyên chất với lượng không kiểm soát [6]. Trong nghiên cứu năm 2019 trên 8.492 phụ nữ Mỹ, việc uống nhiều nước trái cây có liên quan đến sự gia tăng nồng độ mỡ máu triglyceride, tăng chỉ số đường huyết trung bình (HbA1c) và làm giảm nồng độ adiponectin (một hormone có lợi cho chuyển hóa đường và mỡ) [6]. Do đó, nước trái cây không phải là thức uống có thể dùng thay nước lọc hàng ngày [6].
Ai nên thận trọng khi cắt giảm đồ uống có đường?
Nhóm đầu tiên cần lưu ý là những người đang tiêu thụ lượng lớn nước ngọt mỗi ngày (từ 3 phần trở lên), đặc biệt là thanh thiếu niên thừa cân, béo phì [3]. Khi ngừng đột ngột, nhóm này rất dễ gặp triệu chứng đau đầu, mệt mỏi, sụt giảm động lực và mất tập trung trong những ngày đầu [3]. Đây là phản ứng sinh lý bình thường của cơ thể khi thiếu hụt đường và caffeine đột ngột, không phải dấu hiệu bệnh lý nguy hiểm [3].
Nhóm thứ hai là người đang mắc bệnh đái tháo đường, bệnh tim mạch hoặc có hội chứng chuyển hóa đang dùng thuốc điều trị [4] [6] [5]. Khi cắt giảm lượng lớn đường lỏng (có thể lên tới 80 g đường/ngày), mức đường huyết và insulin trong cơ thể sẽ thay đổi nhanh chóng [2] [3]. Người bệnh cần tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị để theo dõi đường huyết và điều chỉnh liều thuốc hạ đường huyết nếu cần, tránh nguy cơ hạ đường huyết quá mức.
Phụ nữ cũng cần đặc biệt chú ý đến việc cắt giảm nước ngọt [4] [6]. Tổng quan nghiên cứu năm 2017 cho thấy mối liên hệ giữa tiêu thụ đồ uống có đường và nguy cơ đột quỵ có xu hướng rõ rệt hơn ở phụ nữ so với nam giới [4]. Việc chủ động ngừng uống nước ngọt sớm sẽ giúp bảo vệ sức khỏe mạch máu hiệu quả hơn [4] [6].
Cách áp dụng thực tế để cai nước ngọt thành công
Mục tiêu tốt nhất khi cắt giảm đồ uống có đường trong 30 ngày là chuyển sang uống nước lọc hoặc sữa tươi không đường [3] [5]. Nước lọc là lựa chọn tiêu chuẩn giúp loại bỏ hoàn toàn calo rỗng mà không gây tác dụng phụ lên đường huyết hay kích thích vị giác thèm ngọt [2] [5]. Sữa không đường cung cấp thêm dinh dưỡng mà không làm tăng đường bổ sung [3].
Đối với người nghiện nước ngọt nặng và cảm thấy quá khó khăn khi chuyển ngay sang nước lọc vì các triệu chứng cai như đau đầu hay bứt rứt, có thể áp dụng lộ trình chuyển tiếp [3] [5]. Trong vài tuần đầu, người dùng có thể sử dụng đồ uống ít hoặc không calo (LNCSB) để thay thế cho nước ngọt có đường nhằm hỗ trợ giảm cân và giảm mỡ gan [5]. Tuy nhiên, cần kiểm soát chặt chẽ khẩu phần ăn hàng ngày, tránh việc ăn bù các loại bánh kẹo hay thức ăn nhanh do chất tạo ngọt kích thích sự thèm ăn [2] [8]. Sau giai đoạn chuyển tiếp, nên giảm dần cả nước ngọt ăn kiêng để quay về với nước lọc hoàn toàn [2] [8].
Người thực hiện cũng nên chọn thời điểm bắt đầu thử thách 30 ngày vào những ngày nghỉ cuối tuần. Vì 3 ngày đầu tiên thường xuất hiện tình trạng giảm tập trung, đau đầu và uể oải, việc bắt đầu vào ngày nghỉ sẽ giúp cơ thể vượt qua giai đoạn cai đường nhẹ nhàng hơn mà không ảnh hưởng đến công việc hay học tập [3].
Cắt giảm hoàn toàn đồ uống có đường trong 30 ngày là quyết định mang lại lợi ích trực tiếp cho đường huyết, mỡ máu và lá gan của bạn [2] [6] [5]. Dù vài ngày đầu có thể xuất hiện cảm giác thèm ngọt và mệt mỏi, sự kiên trì thay thế nước ngọt bằng nước lọc sẽ giúp cơ thể thiết lập lại trạng thái cân bằng chuyển hóa khỏe mạnh [4] [3] [5]. Người có bệnh nền đái tháo đường hoặc tim mạch nên trao đổi với bác sĩ để có kế hoạch điều chỉnh chế độ dinh dưỡng an toàn và phù hợp nhất.
