Nhiều bậc phụ huynh khi thấy con bước sang tháng thứ 4, thứ 5 hay nhìn miệng người lớn nhai liền cho rằng trẻ đã thèm ăn và vội vàng tập ăn dặm sớm. Ngược lại, không ít người lo lắng việc đưa thức ăn ngoài sữa vào quá sớm sẽ làm hỏng vị giác và dẫn đến chứng biếng ăn khi trẻ lớn lên.
Dữ liệu nghiên cứu khoa học cho thấy việc cho trẻ ăn dặm trước 6 tháng tuổi thực sự có mối liên hệ với việc gia tăng nguy cơ kén ăn, sợ thức ăn mới và thu hẹp sự đa dạng thực phẩm ở giai đoạn mầm non [1]. Tuy nhiên, biếng ăn không chỉ do một nguyên nhân duy nhất mà là kết quả của sự tương tác giữa thời điểm ăn dặm, thời gian bú mẹ hoàn toàn, cách chuyển đổi độ thô của thức ăn, yếu tố di truyền và tâm lý của chính cha mẹ trong giờ ăn [1][2][3][4].
Cơ chế hình thành sở thích vị giác và phản ứng với thức ăn ở trẻ nhỏ
Kén ăn (picky eating) được định nghĩa là tình trạng trẻ không sẵn lòng ăn các món quen thuộc, từ chối thử món mới và có những sở thích thực phẩm quá cứng nhắc [2]. Ngay từ khi mới chào đời, trẻ sơ sinh đã có xu hướng bẩm sinh là yêu thích vị ngọt [2]. Sở thích ăn uống được khởi phát từ rất sớm, chịu sự chi phối một phần bởi yếu tố di truyền, nhưng đồng thời được định hình mạnh mẽ bởi phương pháp nuôi dưỡng ở giai đoạn nhũ nhi và môi trường gia đình [5].
Yếu tố sinh học và di truyền đóng vai trò nền tảng khá lớn trong cách trẻ tiếp nhận mùi vị [3]. Một nghiên cứu thực hiện trên hơn 5.000 cặp song sinh và cha mẹ của các bé cho thấy chứng sợ thức ăn mới (food neophobia) có tính di truyền cao với hệ số di truyền ước tính lên tới 0,78 (khoảng tin cậy 95%: 0,76 - 0,79), trong khi khoảng một phần tư sự khác biệt biểu hiện ra bên ngoài được giải thích bởi các yếu tố môi trường [3]. Bên cạnh đó, biến thể di truyền trong độ nhạy cảm với vị đắng — được phân loại thông qua khả năng nếm hoặc không nếm được chất 6-n-propylthiouracil — có thể đóng vai trò trong việc trẻ chấp nhận và tiêu thụ rau xanh ở giai đoạn đầu đời [3].
Ngay từ tháng đầu tiên sau sinh, những trẻ ở thời điểm 2 tuần và 4 tuần tuổi mà sau này được xác định là biếng ăn đã có kiểu bú khác biệt so với trẻ bình thường, biểu hiện qua số nhịp mút ít hơn trong mỗi cữ bú [3]. Khi đưa thức ăn bổ sung vào quá sớm trước mốc 6 tháng, nếu trẻ chưa sẵn sàng và từ chối thức ăn đặc, điều này sẽ làm tăng gần gấp đôi nguy cơ người mẹ rơi vào trạng thái lo lắng căng thẳng (tỷ số chênh OR = 1,92; khoảng tin cậy 95%: 1,33 - 2,76) [6]. Chính sự lo lắng này lại thúc đẩy người mẹ trì hoãn việc tăng độ thô của thức ăn về sau, tạo ra một vòng xoắn dẫn đến chứng kén ăn trầm trọng khi trẻ lên 3 tuổi [6].
Nghiên cứu khoa học nói gì về thời điểm ăn dặm và chứng biếng ăn?
Mối liên hệ trực tiếp giữa việc ăn dặm trước 6 tháng tuổi và hành vi biếng ăn đã được ghi nhận rõ trong một nghiên cứu phân tích hồi cứu công bố năm 2011 [1]. Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu khảo sát nền từ chương trình STRONG Kids, thu thập từ tháng 2 đến tháng 7 năm 2009 tại các trung tâm chăm sóc trẻ em ở miền Đông bang Illinois, phân tích 129 bản tự báo cáo của các bà mẹ có con ở độ tuổi mầm non [1]. Kết quả phân tích hồi quy logistic cho thấy những trẻ được cho ăn dặm trước 6 tháng tuổi có nguy cơ mắc chứng sợ thức ăn mới và nguy cơ chỉ ăn một số ít loại thực phẩm hạn chế cao gấp 2,5 lần so với trẻ ăn dặm đúng tuổi (khoảng tin cậy 95% lần lượt là 1,01 - 5,93 và 1,06 - 5,73) [1]. Ngược lại, những trẻ được bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu giảm được 78% nguy cơ đòi hỏi cách chế biến món ăn cố định (khoảng tin cậy 95%: 19% - 94%), giảm 81% nguy cơ từ chối thức ăn (khoảng tin cậy 95%: 31% - 94%) và giảm 75% nguy cơ sợ thức ăn mới (khoảng tin cậy 95%: 11% - 93%) [1].
Vai trò bảo vệ của sữa mẹ tiếp tục được làm rõ trong một nghiên cứu công bố năm 2018 trên nhóm trẻ có cân nặng bình thường nhưng có nguy cơ béo phì cao [5]. Khi so sánh với nhóm chỉ bú mẹ hoàn toàn từ 0 đến 1 tháng, những trẻ được bú mẹ hoàn toàn cho đến 4 - 5 tháng tuổi (tương ứng với việc bắt đầu ăn dặm từ đầu tháng thứ 6 theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới - WHO) có nguy cơ kén ăn thấp hơn rõ rệt trong cả phân tích thô (OR = 0,51; p = 0,04) và phân tích đã hiệu chỉnh (OR = 0,35; khoảng tin cậy 95%: 0,16 - 0,76; p = 0,008) [5]. Nhóm trẻ bú mẹ đến 6 - 10 tháng tuổi cũng có lượng tiêu thụ rau xanh hàng ngày cao hơn trong phân tích thô, dù không ghi nhận mối liên hệ nào với lượng ăn trái cây, tinh bột hay đồ uống có đường [5].
Bên cạnh thời điểm bắt đầu, quá trình chuyển đổi kết cấu thức ăn và tâm lý gia đình được khảo sát quy mô lớn qua nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu Avon (ALSPAC) công bố năm 2018 và báo cáo tổng hợp năm 2022 [2][6]. Nghiên cứu theo dõi từ 5.758 đến 6.608 trẻ con một từ giai đoạn bào thai qua 2 năm đầu đời và đánh giá tình trạng kén ăn lúc 3 tuổi [2]. Kết quả chỉ ra rằng việc gặp khó khăn khi ăn dặm và việc giới thiệu thức ăn lợn cợn (lumpy foods) muộn sau 9 tháng tuổi làm tăng khả năng trẻ trở nên cực kỳ kén ăn lúc 3 tuổi với tỷ số chênh độc lập là 1,43 (khoảng tin cậy 95%: 1,16 - 1,78) [2][6]. Đáng chú ý, tại thời điểm 15 tháng tuổi, có tới 56% trẻ được coi là kén chọn thức ăn [2]. Nếu người mẹ không lo lắng về điều này, chỉ có 17% trẻ tiến triển thành cực kỳ kén ăn lúc 3 tuổi; nhưng nếu người mẹ rất lo lắng, tỷ lệ này vọt lên tới 50% (OR cho tính kén chọn kèm lo lắng là 7,41 và cho hành vi từ chối thức ăn kèm lo lắng là 3,14) [2][6].
Tính liên tục của các vấn đề ăn uống từ năm đầu đời đến tuổi đi học cũng được xác nhận qua nghiên cứu đoàn hệ dân số Copenhagen Child Cohort 2000 công bố năm 2016 trên 1.327 trẻ từ 5 đến 7 tuổi tại Đan Mạch [7]. Dữ liệu do điều dưỡng sức khỏe ghi nhận định kỳ trong năm đầu đời cho thấy các trục trặc về ăn uống ở giai đoạn nhũ nhi làm tăng gấp đôi nguy cơ trẻ kén ăn (OR = 2,02; khoảng tin cậy 95%: 1,20 - 3,40) và tăng nguy cơ ăn ít do cảm xúc (OR = 1,49; khoảng tin cậy 95%: 1,05 - 2,11) khi lên 5 - 7 tuổi [7]. Ngoài ra, việc có cha mẹ không sinh ra tại Đan Mạch dự báo tình trạng ăn chậm hoặc ăn kém (OR = 5,29), và việc người mẹ có chẩn đoán rối loạn tâm thần trước khi con lên 5 tuổi cũng làm tăng mạnh nguy cơ này trong phân tích đơn biến (OR = 6,08) [7].
Ở góc độ lâm sàng hiện đại, một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu công bố năm 2023 thực hiện trên 80 phụ huynh có con từ 6 đến 18 tháng tuổi tại một trung tâm chăm sóc ban đầu ở đô thị đã khảo sát qua mạng tại 3 thời điểm [4]. Phân tích hồi quy hỗn hợp cho thấy các vấn đề ăn uống của trẻ có tương quan có ý nghĩa thống kê với tính kén ăn (hệ số tương quan r = 0,51), sự kháng cự thử món mới (r = 0,30), chứng lo âu của cha mẹ (r = 0,34), các bữa ăn vội vã (r = 0,28) và độ tuổi của trẻ (r = 0,32) [4]. Điểm số trên thang đo vấn đề ăn uống ở nhóm trẻ kén ăn cao hơn trung bình 6 điểm so với nhóm không kén ăn theo thời gian (p < 0,001) [4].
Điểm mạnh và giới hạn của các bằng chứng hiện tại
Các nghiên cứu hiện có cung cấp bức tranh đa chiều từ các đoàn hệ lớn hàng nghìn trẻ theo dõi dọc nhiều năm cho đến các phân tích chuyên sâu về hành vi [2][3][7]. Tuy nhiên, giới khoa học cũng thẳng thắn chỉ ra những mặt hạn chế và sự chưa đồng nhất giữa các kết quả [3].
Đầu tiên, nghiên cứu năm 2011 chỉ ra nguy cơ tăng gấp 2,5 lần khi ăn dặm trước 6 tháng có thiết kế hồi cứu dựa trên trí nhớ tự báo cáo của người mẹ với cỡ mẫu khá nhỏ là 129 người [1]. Thứ hai, không phải mọi công trình đều tìm thấy kết quả giống nhau về vai trò của sữa mẹ và thời điểm ăn dặm [3]. Bài tổng quan năm 2020 ghi nhận rằng trong khi một số nghiên cứu cho thấy thời gian bú mẹ ngắn và ăn dặm muộn dự báo tính kén ăn, thì một nghiên cứu khác lại không thấy sự khác biệt về tỷ lệ kén ăn giữa trẻ bú mẹ, trẻ uống sữa công thức hay kết hợp cả hai [3]. Thậm chí, dữ liệu từ nghiên cứu Generation R tại Hà Lan theo dõi gần 5.000 trẻ ở các mốc 2, 6 và 12 tháng tuổi cho thấy việc bú sữa mẹ không dự báo tình trạng kén ăn về sau [3].
Thứ ba, bản thân kết quả về tính chất kén ăn còn chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố nhân khẩu học cố định chưa hoàn toàn thống nhất [3]. Trong nghiên cứu ALSPAC khi trẻ 38 tháng tuổi, kén ăn có liên quan đến việc mẹ lớn tuổi, mẹ hút thuốc, tầng lớp xã hội và học vấn của mẹ cao hơn, chỉ số khối cơ thể (BMI) trước mang thai của mẹ thấp hơn, sinh con so, trẻ nhẹ cân lúc sinh và trẻ là bé trai [3]. Tuy nhiên, các nghiên cứu khác lại thấy bé trai và bé gái bị ảnh hưởng ngang nhau, và việc có anh chị em ruột lại là yếu tố bảo vệ giúp trẻ đỡ biếng ăn [3].
Những hiểu lầm phổ biến của cha mẹ khi tập ăn dặm
Một nghiên cứu định tính năm 2023 cho thấy niềm tin và nỗi sợ hãi của người mẹ chi phối mạnh mẽ cách họ cho con ăn dặm, đôi khi vô tình tạo ra rủi ro mới cho trẻ [8]. Hiểu lầm phổ biến nhất là vì quá sợ con bị hóc nghẹn nên nhiều bà mẹ trì hoãn việc chuyển từ thức ăn xay nhuyễn sang các kết cấu thô hơn (như thức ăn lợn cợn, thái nhỏ, xé sợi) và trì hoãn việc cho con tự bốc ăn thay vì đút thìa [8]. Chiến lược né tránh này đi ngược lại hướng dẫn dinh dưỡng và vô tình đẩy trẻ vào nguy cơ kén ăn cao hơn [2][8].
Hiểu lầm thứ hai là coi sự kén chọn của trẻ như một mối đe dọa sức khỏe nghiêm trọng, từ đó áp dụng các biện pháp kiểm soát cứng nhắc [8]. Nhiều bà mẹ cho ăn theo một thứ tự máy móc, loại bỏ hoàn toàn một số thực phẩm họ cho là không lành mạnh và ép buộc trẻ phải ăn bằng được những món người lớn cho là bổ dưỡng [8]. Các chuyên gia khẳng định việc ép ăn và kiểm soát quá mức này trái với nguyên tắc cho ăn đáp ứng, làm củng cố thêm tính biếng ăn và gây chậm tăng trưởng [8].
Hiểu lầm thứ ba là trì hoãn đưa các thực phẩm dễ gây dị ứng vào khẩu phần khi trẻ đã tròn 6 tháng tuổi vì sợ phản ứng dị ứng [8]. Việc cố tình lùi thời điểm giới thiệu nhóm thực phẩm này sau mốc 6 tháng không những không bảo vệ được trẻ mà thực chất lại làm tăng nguy cơ phát triển dị ứng thực phẩm thật sự [8].
Nhóm nào cần đặc biệt thận trọng?
Những người làm mẹ lần đầu là đối tượng cần được hỗ trợ và tư vấn sát sao nhất [6]. Nghiên cứu năm 2022 chỉ ra rằng các bà mẹ sinh con đầu lòng có nguy cơ lo lắng quá mức về chuyện ăn uống của con cao hơn gấp đôi (OR = 2,14; khoảng tin cậy 95%: 1,25 - 3,68) [6]. Sự lo lắng này cũng tăng vọt ở những bà mẹ cảm thấy con khó cho ăn trước 6 tháng tuổi (OR = 1,53) hoặc thấy con từ chối thức ăn đặc trước 6 tháng (OR = 1,92), dẫn đến hệ quả là họ có xu hướng trì hoãn cho ăn thô muộn cao gấp 2,33 lần [6].
Các bậc phụ huynh có biểu hiện lo âu hoặc có tiền sử rối loạn tâm lý, tâm thần cũng cần đặc biệt lưu ý vì tâm lý căng thẳng của cha mẹ có mối liên hệ trực tiếp với các vấn đề ăn uống và chứng biếng ăn hạn chế của trẻ [4][7]. Ngoài ra, những trẻ ngay từ năm đầu đời đã có dấu hiệu tăng trưởng kém, chỉ số phát triển thấp hoặc có hành vi kháng cự thức ăn kéo dài cần được đưa đi khám bác sĩ nhi khoa hoặc chuyên gia dinh dưỡng sớm để được đánh giá lâm sàng, tuyệt đối không tự ý ép ăn hay dùng các biện pháp truyền miệng [4][7].
Áp dụng thực tế: Cho trẻ ăn dặm thế nào để phòng ngừa biếng ăn?
Về thời điểm, cha mẹ nên duy trì cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời (tức đến hết tháng thứ 5) và chỉ bắt đầu giới thiệu thức ăn bổ sung từ đầu tháng thứ 6 theo đúng khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới [1][5]. Ở mốc khoảng 6 tháng tuổi, phụ huynh cũng nên bắt đầu giới thiệu dần các thực phẩm có khả năng gây dị ứng theo hướng dẫn chuyên môn thay vì né tránh [8].
Về kết cấu và loại thực phẩm, tuyệt đối không duy trì đồ xay nhuyễn quá lâu mà cần tập cho trẻ ăn thức ăn có độ lợn cợn, thô dần trước mốc 9 tháng tuổi, kết hợp khuyến khích trẻ tập tự cầm nắm thức ăn khi đã sẵn sàng [2][8]. Thực đơn hàng ngày nên ưu tiên thực phẩm tươi sống, đặc biệt là trái cây tươi, và hạn chế sử dụng các loại thức ăn chế biến sẵn đóng hộp vì đồ ăn sẵn là yếu tố dự báo làm tăng nguy cơ kén ăn về sau [2].
Về không khí bữa ăn, cha mẹ nên ngồi ăn cùng bữa và ăn chung các món tương đồng với trẻ để làm gương, đồng thời tránh việc thúc giục làm bữa ăn trở nên vội vã, căng thẳng [2][4]. Quan trọng nhất, phụ huynh cần hiểu rằng việc trẻ 15 tháng tuổi tỏ ra kén chọn món ăn là hiện tượng sinh lý bình thường (gặp ở hơn một nửa số trẻ), do đó hãy giữ tâm lý bình tĩnh, không ép buộc và kiên trì bày biện đa dạng các món ăn cho con làm quen dần [2][8].
Tóm lại, việc vội vàng cho trẻ ăn dặm trước 6 tháng tuổi không giúp con cứng cáp hơn mà còn làm tăng nguy cơ sợ thức ăn mới và biếng ăn khi lớn lên [1]. Tuân thủ mốc ăn dặm từ tháng thứ 6, tăng độ thô trước 9 tháng và giữ tâm lý thoải mái, ăn cùng con với thực phẩm tươi mới chính là chìa khóa khoa học giúp trẻ xây dựng thói quen ăn uống lành mạnh lâu dài [1][2][5].




