Nước mát giải nhiệt nấu từ lá cây có vị ngọt thanh là thức uống quen thuộc tại nhiều gia đình Việt. Nhiều người truyền tai nhau dùng lá cam thảo dây để nấu nước uống hằng ngày hoặc hãm trà thay thế hoàn toàn cho rễ cam thảo bắc. Liệu hai loại thảo dược cùng mang tên "cam thảo" này có thực sự giống nhau và thay thế được cho nhau?

Câu trả lời ngắn gọn là: Lá cam thảo dây có thể thay thế cam thảo bắc về mặt tạo vị ngọt tự nhiên trong đồ uống, nhưng không thể thay thế hoàn toàn về mặt dược tính. Dù cùng mang lại cảm giác ngọt ngào nơi đầu lưỡi và cùng chứa các nhóm hợp chất triterpene glycoside đặc trưng, hai nguyên liệu này thuộc hai loài thực vật khác nhau và sở hữu các hoạt chất chính hoàn toàn khác biệt [1].

Hai loài cây khác biệt dù chung tên gọi

Trong đời sống, tên gọi "cam thảo" thường được dùng chung cho các loại cây có vị ngọt. Cam thảo dây có tên khoa học là Abrus precatorius, còn được thế giới gọi là cam thảo Ấn Độ (Indian licorice), hạt cườm hay đậu tương tư [2]. Đây là loài cây bụi leo sống lâu năm, thân thảo quấn phải, có thể dài trên 5 m với hệ rễ sâu [2]. Lá cây mọc so le dài 2-7 cm dạng lông chim chẵn, gồm 18-30 (đôi khi tới 40) lá chét nhỏ hình thuôn hoặc bầu dục kích thước 4-25 x 2.5-10 mm [2]. Cây có nguồn gốc từ châu Á, châu Phi và châu Úc, phát triển mạnh ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới nhưng không chịu được sương giá mùa đông [2].

Ngược lại, cam thảo bắc (hay cam thảo châu Âu) thuộc chi Glycyrrhiza, phổ biến là hai loài tạo chất ngọt Glycyrrhiza glabra và Glycyrrhiza uralensis [3]. Bộ phận dùng chính của cam thảo bắc trong trà và dược liệu là phần rễ khô dưới mặt đất, trong khi cam thảo dây chủ yếu được khai thác phần lá khô [1]. Sự khác biệt từ nguồn gốc thực vật dẫn đến bảng thành phần hóa học bên trong hai loại cây này đi theo hai hướng riêng.

Giải mã vị ngọt: Abrusoside đối đầu Glycyrrhizin

Thắc mắc lớn nhất của người tiêu dùng là vị ngọt của lá cam thảo dây đến từ đâu và khác gì cam thảo bắc. Ở rễ cây cam thảo Glycyrrhiza glabra, hoạt chất tạo ngọt chủ đạo và nổi tiếng nhất là glycyrrhizin [3]. Khảo sát thực địa công bố năm 2016 trên các mẫu cây Glycyrrhiza glabra thu thập tự nhiên tại Tajikistan cho thấy hàm lượng glycyrrhizin trong phần rễ dưới mặt đất dao động từ 2.56% đến 9.29% trọng lượng khô [3]. Khi đem hạt giống này trồng thử nghiệm 3 năm tại Nhật Bản, hàm lượng glycyrrhizin trong rễ thu hoạch đạt từ 0.75% đến 1.82% trọng lượng khô [3].

Trong khi đó, lá cam thảo dây (Abrus precatorius) không dùng glycyrrhizin để tạo ngọt mà sở hữu một nhóm hợp chất riêng biệt mang tên abrusoside [4]. Nghiên cứu công bố năm 1989 đã phân lập thành công 4 hợp chất glycoside triterpene có vị ngọt mới từ dịch chiết hòa tan trong n-BuOH của lá cam thảo dây, đặt tên là abrusoside A, B, C và D [4]. Các chất này được cấu tạo dựa trên khung aglycone kiểu cycloartane mới gọi là abrusogenin [4].

Điểm đáng chú ý nằm ở cường độ ngọt. Khi thử nghiệm cảm quan trên hội đồng nếm thử là con người, nhóm hợp chất abrusoside A-D trong lá cam thảo dây cho thấy độ ngọt cao gấp 30 đến 100 lần so với đường mía thông thường (sucrose) [4]. Ngoài nhóm abrusoside, một nghiên cứu khác vào năm 2002 tiếp tục phân lập được từ dịch chiết methanol thủy phân axit của lá cam thảo dây 3 hợp chất triterpenoid mới và 1 hợp chất đã biết là sophoradiol [5]. Như vậy, xét riêng về khả năng tạo vị ngọt tự nhiên không cần đường tinh luyện, abrusoside trong lá cam thảo dây hoàn toàn đủ sức đảm nhận vai trò tạo vị tương tự cam thảo bắc [1].

Nghiên cứu khoa học nói gì về hai loại thảo dược?

Để hiểu rõ giá trị thực sự của từng loại, cần nhìn vào dữ liệu từ các công trình nghiên cứu cụ thể. Nghiên cứu đầu tiên năm 1989 không chỉ xác định cấu trúc hóa học bằng phương pháp quang phổ và đo độ ngọt trên hội đồng người thử của abrusoside A-D, mà còn kiểm tra độ an toàn bước đầu [4]. Kết quả thử nghiệm cho thấy cả 4 hợp chất tạo ngọt này đều không gây độc tính cấp trên chuột nhắt và không gây đột biến gen trên chủng vi khuẩn Salmonella typhimurium TM677 [4]. Giới hạn của nghiên cứu này là chỉ mới đánh giá độc tính cấp trên chuột và vi khuẩn trong phòng thí nghiệm với hợp chất phân lập, chưa phải thử nghiệm lâm sàng dài hạn trên người [4].

Nghiên cứu thứ hai công bố năm 2020 tập trung vào việc kiểm soát chất lượng thảo dược trong thực phẩm thương mại [1]. Nhóm nghiên cứu đã phân tích tổng cộng 34 mẫu, bao gồm rễ khô cam thảo Glycyrrhiza glabra, rễ khô nhân sâm Panax ginseng, lá khô cam thảo dây Abrus precatorius, các hỗn hợp trộn đôi, trộn ba của chúng và các mẫu trà ô long có hương vị thương mại bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao ghép nối khối phổ (HPLC-MS) kết hợp thuật toán PARAFAC [1]. Kết quả phân tách dữ liệu thành 8 cụm, chứng minh sự hiện diện của các nhóm triterpene glycoside đặc trưng nhất và xác nhận cả lá cam thảo dây lẫn rễ cam thảo Glycyrrhiza glabra đều đang được sử dụng làm phụ gia tạo vị trong các sản phẩm trà ô long thương mại [1].

Nghiên cứu thứ ba công bố năm 2025 khám phá tiềm năng của lá cam thảo dây trong hỗ trợ giảm viêm khớp thông qua phân tích sắc ký lỏng khối phổ (LC-MS) và các công cụ mô phỏng máy tính [6]. Phân tích hóa thực vật xác định lá cây chứa các nhóm hoạt chất sinh học gồm alkaloid, flavonoid và triterpenoid [6]. Phần mềm Swiss ADME xác nhận nhiều hợp chất tuân thủ quy tắc Lipinski, phần mềm OSIRIS chỉ ra độc tính tối thiểu, và phân tích PASS dự đoán hoạt tính kháng viêm, chống oxy hóa [6]. Mô phỏng gắn kết phân tử (molecular docking) cho thấy hợp chất Abrine trong lá có ái lực gắn kết mạnh với các đích tác động của bệnh viêm khớp dạng thấp [6]. Tuy nhiên, giới hạn lớn của nghiên cứu năm 2025 là dừng ở mức độ phân tích hóa học và mô phỏng trên máy tính (in silico), chưa có dữ liệu thử nghiệm trên người bệnh thực tế [6].

Về phía chi cam thảo Glycyrrhiza, các nghiên cứu lại chứng minh thế mạnh về hợp chất kháng khuẩn và đa dạng phenolic mà lá cam thảo dây không có. Nghiên cứu năm 2010 tổng hợp dữ liệu cho thấy dịch chiết cồn, acetone và chloroform từ rễ và lá Glycyrrhiza glabra có khả năng ức chế nhiều vi khuẩn gây bệnh như Bacillus cereus, Klebsiella pneumoniae, Bacillus subtilis, Enterococcus faecalis và đặc biệt là tụ cầu vàng Staphylococcus aureus kháng thuốc với vòng vô khuẩn đạt 7-11 mm/20 muL [7]. Tác dụng kháng khuẩn này chủ yếu nhờ nhóm isoflavonoid đặc trưng gồm glabridin, hispaglabridin, B,4'-O-methylglabridin, glabriol và 3-hydroxyglabrol [7]. Trong khảo sát năm 2016 tại Tajikistan, hàm lượng glabridin đặc hiệu trong rễ Glycyrrhiza glabra chiếm từ 0.09% đến 0.92% trọng lượng khô [3]. Bên cạnh đó, khảo sát năm 2003 tại Kazakhstan trên lá loài Glycyrrhiza uralensis cũng tìm thấy các hợp chất riêng biệt như licoleafol, uralstilbene, sophoraflavanone B và gancaonin R [8].

Hiểu lầm thường gặp khi đánh đồng hai vị thuốc

Hiểu lầm phổ biến nhất của người tiêu dùng là nghe chữ "cam thảo" liền mặc định mọi cây mang tên này đều có thành phần và công dụng y hệt nhau. Thực tế, ngay trong cùng chi Glycyrrhiza, khảo sát năm 2016 tại Tajikistan đã phát hiện loài đặc hữu Glycyrrhiza bucharica dù có quan hệ di truyền rất gần với 3 loài tạo ngọt (G. uralensis, G. inflata, G. glabra) nhưng lại hoàn toàn không sản sinh ra chất ngọt glycyrrhizin [3]. Điều đó cho thấy sự khác biệt hóa học giữa các loài thực vật là rất lớn.

Việc dùng lá cam thảo dây đun nước uống vì nghĩ nó có chứa glycyrrhizin hay glabridin giống cam thảo bắc là không chính xác [4]. Lá cam thảo dây cung cấp nhóm abrusoside và các triterpenoid riêng [5], trong khi cam thảo bắc cung cấp glycyrrhizin và hệ isoflavonoid kháng khuẩn đặc hiệu [7]. Do đó, không thể tự ý lấy lá cam thảo dây thay vào vị cam thảo bắc trong các thang thuốc điều trị bệnh.

Ai nên thận trọng khi sử dụng lá cam thảo dây?

Dù lá cam thảo dây chứa các chất tạo ngọt abrusoside A-D đã được chứng minh không gây độc cấp tính trên chuột thí nghiệm [4] và có độc tính dự đoán tối thiểu trên mô phỏng máy tính [6], người dùng vẫn phải hết sức thận trọng ở khâu chọn lọc bộ phận dùng. Theo tài liệu mô tả thực vật năm 2019, quả của cây cam thảo dây dài 2-4.5 cm, bên trong chứa từ 1 đến 7 hạt hình cầu hoặc bầu dục kích thước 5.5-7.5 x 4-5.5 mm, vỏ cứng, có màu đỏ bóng và đen rất bắt mắt, đồng thời cây có mang các gen độc tố giống abrin [2]. Người dân khi thu hái hoặc mua lá cam thảo dây khô cần loại bỏ tuyệt đối phần quả và hạt đỏ đen này, chỉ sử dụng phần lá đã được làm sạch.

Ngoài ra, những người đang mắc bệnh nền mạn tính, phụ nữ mang thai, đang cho con bú hoặc người đang sử dụng thuốc điều trị theo đơn không nên tự ý uống nước lá thảo dược đặc thay nước lọc hằng ngày. Các hoạt chất sinh học như alkaloid, flavonoid và triterpenoid trong lá [6] có thể tương tác với thuốc đang dùng, vì vậy cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng thường xuyên.

Cách áp dụng thực tế trong đời sống

Trong đời sống hằng ngày, nếu mục đích của bạn chỉ là tìm kiếm một nguyên liệu tự nhiên giúp tạo vị ngọt thanh cho các món trà thảo mộc, nước sâm giải nhiệt mà không muốn nạp thêm đường kính trắng, lá cam thảo dây là lựa chọn thay thế hợp lý. Thực tế ngành công nghiệp thực phẩm đã ứng dụng cả lá cam thảo dây lẫn rễ cam thảo làm phụ gia tạo hương vị trong sản xuất trà ô long [1].

Khi sử dụng tại nhà, bạn chỉ nên dùng một lượng nhỏ lá cam thảo dây khô kết hợp cùng trà hoặc các loại lá nấu nước mát vì abrusoside trong lá đã có độ ngọt gấp 30-100 lần đường mía [4]. Trước khi nấu, cần nhặt sạch tạp chất, kiểm tra kỹ để chắc chắn không lẫn hạt đỏ đen của cây [2], rửa sạch lá rồi mới hãm với nước sôi. Bên cạnh việc thưởng thức trà thảo mộc, duy trì chế độ ăn cân bằng và uống đủ nước lọc vẫn là nền tảng quan trọng nhất cho sức khỏe.

Tóm lại, lá cam thảo dây hoàn toàn có thể thay thế cam thảo bắc trong vai trò chất tạo ngọt tự nhiên cho đồ uống nhờ nhóm hợp chất abrusoside ngọt gấp hàng chục lần đường mía [4]. Tuy nhiên, do khác biệt hoàn toàn về loài thực vật và hệ hoạt chất sinh học so với rễ cam thảo bắc [3], người dùng chỉ nên xem đây là nguyên liệu thực phẩm tạo vị, dùng đúng phần lá sạch và hỏi ý kiến bác sĩ nếu muốn dùng hỗ trợ sức khỏe.