Khi cảm thấy buồn bã kéo dài, mất hứng thú hoặc tinh thần đi xuống, nhiều người có thói quen tìm đến các sản phẩm tự nhiên như dầu cá Omega-3 thay vì đi khám tâm lý. Thắc mắc phổ biến đặt ra là liệu viên uống quen thuộc này có thực sự giúp cải thiện tâm trạng ở người trầm cảm nhẹ hay chỉ là lời đồn thổi.
Câu trả lời ngắn gọn là bổ sung Omega-3 có thể mang lại lợi ích cải thiện triệu chứng trầm cảm, nhưng hiệu quả phụ thuộc chặt chẽ vào tỷ lệ thành phần [1]. Các bằng chứng khoa học chỉ ra rằng công thức giàu axit eicosapentaenoic (EPA) với tỷ lệ từ 60% trở lên và liều dùng từ 1 g/ngày trở xuống mới đem lại tác dụng rõ rệt, trong khi các loại dầu cá chỉ giàu axit docosahexaenoic (DHA) thường không mang lại hiệu quả tương tự ở người trưởng thành nói chung [1].
Cơ chế tác động lên não bộ và phản ứng viêm
Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận nồng độ axit béo Omega-3 thấp ở những người mắc các rối loạn trầm cảm [2]. Sự thiếu hụt Omega-3 có cơ sở sinh học hợp lý giải thích việc làm tăng nguy cơ mắc các rối loạn khí sắc [2].
Các axit béo không bão hòa đa Omega-3, đặc biệt là EPA và DHA, có tác dụng chống trầm cảm nhờ khả năng điều hòa tình trạng viêm thần kinh (neuroinflammation), hỗ trợ chức năng chất dẫn truyền thần kinh (các chất hóa học giúp tế bào não giao tiếp với nhau) và tăng tính mềm dẻo thần kinh (khả năng não bộ thích nghi và tạo kết nối mới) [3]. Các nghiên cứu sinh hóa và dược lý cũng gợi ý axit béo điều hòa chuyển hóa chất dẫn truyền thần kinh và truyền tín hiệu tế bào ở người, đồng thời những bất thường trong chuyển hóa axit béo và eicosanoid có thể đóng vai trò gây ra trầm cảm [4].
Nhiều sản phẩm tham gia vào quá trình tổng hợp axit béo Omega-3 như prostaglandin được phát hiện có vai trò điều hòa phản ứng viêm [5]. Sự tham gia của Omega-3 vào việc kiểm soát viêm đã được ủng hộ bởi các nghiên cứu trong ống nghiệm (in vitro), trên cơ thể sống (in vivo) và các phân tích gộp [5]. Tuy nhiên, bản chất và cơ chế chính xác đằng sau mối liên hệ giữa Omega-3 và hệ thống viêm vẫn chưa được hiểu rõ hoàn toàn, dẫn đến nhiều tranh luận khoa học [5].
Bằng chứng từ các phân tích gộp quy mô lớn
Một phân tích gộp công bố năm 2019 đã tổng hợp dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng giả dược được xuất bản trước ngày 20/12/2017 nhằm đánh giá hiệu quả của Omega-3 đối với bệnh trầm cảm [1]. Từ 180 bài báo tìm thấy, nhóm nghiên cứu đã phân tích 26 nghiên cứu với tổng cộng 2.160 người tham gia [1]. Kết quả cho thấy axit béo không bão hòa đa Omega-3 mang lại hiệu quả có lợi tổng thể đối với các triệu chứng trầm cảm (mức chênh lệch trung bình chuẩn hóa SMD = -0,28, P = 0,004) [1]. Khi so sánh với giả dược, các chế phẩm EPA tinh khiết (100% EPA) và chế phẩm EPA chiếm ưu thế (tỷ lệ EPA từ 60% trở lên) chứng minh được lợi ích lâm sàng ở mức liều EPA từ 1 g/ngày trở xuống (với SMD lần lượt là -0,50, P = 0,003 và SMD = -1,03, P = 0,03) [1]. Ngược lại, các chế phẩm DHA tinh khiết hoặc DHA chiếm ưu thế không cho thấy lợi ích này [1]. Giới hạn của nghiên cứu là cần thêm dữ liệu để kiểm tra tác dụng trên các nhóm đối tượng cụ thể có tình trạng viêm, mức độ nặng của trầm cảm và phản ứng theo liều của cả EPA lẫn DHA [1].
Một tổng quan hệ thống và phân tích gộp khác đăng ký mã PROSPERO CRD42023408744 đã đánh giá hiệu quả của việc bổ sung Omega-3 đối với chứng trầm cảm ở người cao tuổi và bệnh nhân sa sút trí tuệ [6]. Các nhà khoa học phân tích thời gian can thiệp (3 tháng, 6 tháng, 12 tháng, từ 24 tháng trở lên), mức độ nhận thức (từ suy giảm nhận thức nhẹ đến sa sút trí tuệ nặng) và liều lượng hàng ngày (cao, trung bình, thấp) [6]. Phân tích gộp gồm 5 nghiên cứu với 517 người tham gia nằm trong 9 tổng quan hệ thống cho thấy bổ sung Omega-3 có xu hướng ảnh hưởng không có ý nghĩa thống kê lên triệu chứng trầm cảm ở bệnh nhân sa sút trí tuệ nói chung (SMD: 0,147; p = 0,141) [6]. Tuy nhiên, phân tích nhóm nhỏ chỉ ra việc bổ sung DHA giúp giảm đáng kể triệu chứng trầm cảm ở nhóm đối tượng này (SMD: -0,247; p = 0,039) [6]. Đối với EPA, liều cao (p = 0,246) hoặc liều trung bình (p = 0,470) không có tác dụng đáng kể, nhưng liều thấp EPA lại mang đến hiệu quả rõ rệt (SMD: -0,953; p = 0,001), đặc biệt cải thiện đáng kể ở bệnh nhân suy giảm nhận thức nhẹ (SMD: -0,934; p < 0,001) [6]. Giới hạn của phân tích này là cỡ mẫu còn hạn chế, cần thêm các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng dài hạn [6].
Kết quả từ các thử nghiệm lâm sàng trên từng nhóm đối tượng
Một bài tổng quan năm 2009 đã xem xét 3 nghiên cứu thực hiện tại Trung tâm Sức khỏe Tâm thần Beer Sheva [7]. Nghiên cứu đầu tiên đánh giá EPA so với giả dược như một liệu pháp hỗ trợ thuốc chống trầm cảm trên 20 bệnh nhân trầm cảm đơn cực tái phát; kết quả ghi nhận lợi ích có ý nghĩa thống kê cao vào tuần thứ 3 điều trị bằng EPA so với giả dược [7]. Một tổng quan khác năm 2016 dẫn lại thử nghiệm kéo dài 4 tuần có đối chứng giả dược trên 20 người đang dùng thuốc chống trầm cảm với liều ethyl-EPA (E-EPA) 2 g/ngày, ghi nhận hiệu quả rõ rệt từ tuần thứ 2 và cải thiện các triệu chứng trầm cảm cốt lõi trên thang điểm HDRS [8].
Nghiên cứu thứ hai tại trung tâm Beer Sheva thực hiện trên 28 trẻ em từ 6 đến 12 tuổi mắc trầm cảm nặng, được phân ngẫu nhiên dùng Omega-3 hoặc giả dược dưới dạng đơn trị liệu dược lý [7]. Phân tích phương sai (ANOVA) trên 20 bệnh nhi đưa vào phân tích dữ liệu (10 trẻ dùng giả dược, 10 trẻ dùng 0,4 g/ngày EPA cộng 0,2 g/ngày DHA trong 16 tuần) cho thấy tác dụng có ý nghĩa thống kê cao của Omega-3 trên cả 3 thang đánh giá triệu chứng [7], [8].
Nghiên cứu thứ ba là một thử nghiệm nhãn mở bổ sung EPA thực hiện từ tháng 9/2001 đến tháng 1/2003 trên 12 bệnh nhân ngoại trú mắc trầm cảm lưỡng cực loại I (chẩn đoán theo DSM-IV), dùng liều 1,5 đến 2 g/ngày EPA trong tối đa 6 tháng [7], [4]. Kết quả có 8 trong số 10 bệnh nhân hoàn thành ít nhất 1 tháng theo dõi đạt mức giảm từ 50% trở lên trên thang điểm đánh giá trầm cảm Hamilton (Ham-D) trong vòng 1 tháng [7], [4]. Không có bệnh nhân nào xuất hiện triệu chứng hưng cảm nhẹ hoặc hưng cảm, và không có tác dụng phụ đáng kể nào được báo cáo [4]. Giới hạn của nghiên cứu này là thiết kế nhãn mở (không làm mù), cỡ mẫu nhỏ, hoàn thành trước khi có hệ thống đăng ký thử nghiệm lâm sàng và chỉ thực hiện ở bệnh nhân ngoại trú nên không đại diện cho bệnh nhân trầm cảm lưỡng cực mức độ rất nặng phải nhập viện [7], [4]. Kết quả ban đầu này được đánh giá là đáng khích lệ cho người trầm cảm lưỡng cực mức độ nhẹ đến trung bình [4].
Ngoài ra, tổng quan năm 2016 cũng ghi nhận nhiều thử nghiệm giá trị khác [8]. Một nghiên cứu kéo dài 12 tuần trên bệnh nhân người lớn trầm cảm nặng kháng trị với thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRI) cho thấy chỉ mức liều 1 g/ngày E-EPA (chứ không phải liều 2 g/ngày hay 4 g/ngày) mới có hiệu quả giảm triệu chứng trầm cảm trên các thang đo HDRS, MADRS và BDI (mức độ ảnh hưởng: 0,92) [8]. Một thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên kéo dài 8 tuần khác trên 22 bệnh nhân trầm cảm nặng dùng bổ sung 4,4 g/ngày EPA cộng 2,2 g/ngày DHA kết hợp thuốc chống trầm cảm cũng cho điểm số HDRS thấp hơn đáng kể so với giả dược [8]. Trên nhóm 36 phụ nữ mang thai mắc rối loạn trầm cảm nặng dùng đơn trị liệu Omega-3 (2,2 g/ngày EPA cộng 1,2 g/ngày DHA) so với giả dược, 24 người hoàn thành thử nghiệm có điểm số triệu chứng trầm cảm thấp hơn đáng kể trên thang HDRS và EPDS [8].
Khi nào Omega-3 không mang lại hiệu quả?
Dù có nhiều kết quả tích cực, các thử nghiệm lâm sàng về bổ sung Omega-3 vẫn cho ra những kết quả không đồng nhất, một số nghiên cứu ghi nhận mức giảm triệu chứng rõ rệt trong khi số khác cho thấy tác dụng tối thiểu hoặc không có lợi ích [3]. Tỷ lệ các nghiên cứu cho kết quả âm tính hoặc không có sự khác biệt đã tăng lên trong những năm gần đây [2].
Một tổng quan năm 2015 chỉ ra rằng ở những bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim, việc bổ sung axit béo Omega-3 không mang lại tác dụng nào đối với tỷ lệ mắc cũng như mức độ nặng của triệu chứng trầm cảm [5]. Ở bệnh nhân đái tháo đường mắc kèm rối loạn trầm cảm nặng, việc bổ sung Omega-3 E-EPA không cho thấy bằng chứng cải thiện yếu tố dinh dưỡng thần kinh có nguồn gốc từ não (BDNF) trong huyết thanh [5]. Một thử nghiệm mù đôi, có đối chứng giả dược khác đánh giá E-EPA làm liệu pháp bổ trợ cho thuốc chống trầm cảm ở người lớn mắc bệnh đái tháo đường cũng không tìm thấy bằng chứng về hiệu quả, không có sự khác biệt đáng kể nào giữa nhóm dùng Omega-3 E-EPA và nhóm giả dược [5]. Ngay cả trong mô hình chuột bị căng thẳng mạn tính mức độ nhẹ, cả dầu cá lẫn phospholipid lòng đỏ trứng giàu Omega-3 đều không đảo ngược được các rối loạn hành vi mất hứng thú và cân nặng [5].
Sự khác biệt trong thiết kế nghiên cứu, tình trạng dinh dưỡng nền của từng người, liều lượng và tỷ lệ EPA/DHA chính là những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả, đòi hỏi thêm nhiều nghiên cứu để thiết lập hướng dẫn chuẩn hóa [3].
Những hiểu lầm thường gặp khi dùng dầu cá cải thiện tâm trạng
Hiểu lầm phổ biến nhất là mua bất kỳ lọ dầu cá nào ngoài hiệu thuốc cũng giúp cải thiện khí sắc. Thực tế, các phân tích gộp đã giải thích rằng những chế phẩm có tỷ trọng DHA cao có thể không mang lại hiệu quả cho người trầm cảm thông thường, trong khi bằng chứng khoa học ủng hộ các chế phẩm có tỷ trọng EPA chiếm ưu thế (từ 60% trở lên) [1], [2]. Ngoại lệ đáng chú ý là ở nhóm người cao tuổi bị suy giảm nhận thức nhẹ và sa sút trí tuệ, việc bổ sung DHA hoặc EPA liều thấp lại phát huy tác dụng giảm triệu chứng trầm cảm [6].
Hiểu lầm thứ hai là uống liều càng cao thì tâm trạng càng nhanh vui vẻ. Dữ liệu lâm sàng chứng minh điều ngược lại: phân tích gộp năm 2019 xác nhận lợi ích lâm sàng ở liều EPA từ 1 g/ngày trở xuống [1], nghiên cứu năm 2016 chỉ ra liều 1 g/ngày E-EPA hiệu quả nhưng liều 2 g hay 4 g/ngày lại không hiệu quả [8], và phân tích trên người suy giảm nhận thức cũng cho thấy chỉ liều thấp EPA mới có tác dụng rõ rệt còn liều trung bình và cao thì không [6].
Ai nên thận trọng khi sử dụng?
Mặc dù dầu cá thường được người bệnh xem là sản phẩm tự nhiên, có tác dụng bảo vệ thần kinh và rất ít tác dụng phụ được báo cáo trong các thử nghiệm [7], [2], [4], người dùng không nên tự ý coi đây là thuốc chữa khỏi bệnh trầm cảm. Omega-3 đóng vai trò tốt như một liệu pháp hỗ trợ (bổ trợ) cho những người đang điều trị bằng thuốc chống trầm cảm [3].
Những người đang có bệnh nền như đái tháo đường hoặc tiền sử nhồi máu cơ tim cần biết rằng việc bổ sung Omega-3 có thể không cải thiện được triệu chứng trầm cảm của họ [5]. Bệnh nhân trầm cảm mức độ nặng (đặc biệt là trầm cảm lưỡng cực nặng cần nhập viện) không nằm trong nhóm đối tượng có bằng chứng đáp ứng tốt như nhóm nhẹ và trung bình [4]. Phụ nữ mang thai hoặc cha mẹ có con nhỏ (6-12 tuổi) bị trầm cảm dù có dữ liệu nghiên cứu khả quan [7], [8] nhưng tuyệt đối không tự ý mua thực phẩm chức năng điều trị tại nhà mà phải tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi dùng.
Cách áp dụng thực tế trong đời sống
Để hỗ trợ tinh thần một cách khoa học, người có dấu hiệu trầm cảm nhẹ hoặc rối loạn khí sắc trước hết nên duy trì lối sống lành mạnh, ngủ đủ giấc, vận động thể chất và ăn uống cân bằng, ưu tiên nguồn cá nước lạnh tự nhiên trong bữa ăn hàng ngày [4].
Khi chọn thực phẩm bổ sung Omega-3 hỗ trợ tâm trạng cho người trưởng thành, hãy đọc kỹ bảng thành phần ở mặt sau nhãn chai để chọn sản phẩm có tỷ lệ EPA chiếm từ 60% trở lên (hoặc EPA tinh khiết) với tổng liều EPA khoảng 1 g/ngày trở xuống [1]. Đối với người lớn tuổi có kèm suy giảm nhận thức nhẹ, có thể cân nhắc chế phẩm bổ sung DHA hoặc EPA liều thấp theo tư vấn y tế [6]. Thời gian để nhận thấy sự cải thiện trong các nghiên cứu thường dao động từ 2 đến 4 tuần hoặc kéo dài 3 đến 6 tháng tùy tình trạng [6], [7], [8].
Omega-3 là một giải pháp hỗ trợ sức khỏe tâm thần an toàn và có cơ sở khoa học nếu chọn đúng tỷ lệ EPA/DHA và dùng đúng liều lượng [1], [3]. Tuy nhiên, sản phẩm này không thay thế được phác đồ điều trị y khoa; bạn luôn cần trao đổi với bác sĩ khi các triệu chứng buồn bã kéo dài hoặc khi đang sử dụng bất kỳ loại thuốc điều trị bệnh nền nào.




