Thói quen nhâm nhi một tách cà phê hoặc trà mỗi sáng để giữ tỉnh táo là điều quen thuộc với nhiều phụ nữ hiện đại. Tuy nhiên, khi bước vào thai kỳ, nhiều thai phụ băn khoăn liệu việc tiếp tục uống cà phê có làm tăng nguy cơ sảy thai hay ảnh hưởng đến sự phát triển của em bé.
Câu trả lời ngắn gọn từ các dữ liệu khoa học là không có một ngưỡng tiêu thụ caffeine nào được khẳng định an toàn tuyệt đối cho mọi thai kỳ [1], [2]. Nhiều nghiên cứu quan sát ghi nhận mối liên hệ phụ thuộc liều lượng giữa caffeine với nguy cơ sảy thai và hạn chế tăng trưởng bào thai [1], [2]. Trong khi đó, một số phân tích di truyền và thử nghiệm lâm sàng lại chưa tìm thấy tác động nhân quả trực tiếp [3], [4]. Do đó, lời khuyên an toàn nhất cho phụ nữ mang thai hoặc đang chuẩn bị mang thai là nên cắt giảm tối đa hoặc tránh dùng caffeine [1], [2].
Caffeine tác động đến thai kỳ như thế nào?
Caffeine là chất gây thói quen được tiêu thụ phổ biến bậc nhất trong thai kỳ nhưng không mang lại giá trị dinh dưỡng [1], [2]. Chất này được xem là một hợp chất ngoại lai có khả năng tác động bất lợi lên đơn vị nhau thai và bào thai đang phát triển [2].
Khi mẹ bầu tiêu thụ đồ uống chứa caffeine, cơ thể cần thời gian để đào thải chất này ra ngoài, được đo lường qua thời gian bán thải trong nước bọt [2]. Đáng chú ý, tốc độ thanh thải caffeine ở mỗi phụ nữ là khác nhau [2]. Nghiên cứu năm 2008 chỉ ra rằng mối liên hệ giữa caffeine và tình trạng hạn chế tăng trưởng bào thai biểu hiện rõ hơn ở những phụ nữ có tốc độ đào thải caffeine nhanh so với người đào thải chậm [2].
Bên cạnh đó, phản ứng của cơ thể mẹ trong giai đoạn đầu thai kỳ như tình trạng buồn nôn (ốm nghén) cũng tương tác với tác động của caffeine [5]. Sự thay đổi lượng tiêu thụ caffeine qua từng tam cá nguyệt (thường giảm ở ba tháng đầu và tăng trở lại ở ba tháng cuối) cho thấy thói quen này gắn liền với các biểu hiện sinh lý tự nhiên của người mẹ [2].
Nghiên cứu quan sát nói gì về nguy cơ sảy thai và thai lưu?
Một bài tổng quan tường thuật công bố năm 2020 đã đánh giá các bằng chứng tích lũy từ các nghiên cứu quan sát gốc và phân tích gộp [1]. Kết quả xác nhận việc tiêu thụ caffeine ở mẹ làm tăng nguy cơ đối với ít nhất 5 kết cục thai kỳ bất lợi chính: sảy thai, thai lưu, nhẹ cân khi sinh hoặc nhỏ so với tuổi thai, bệnh bạch cầu cấp tính ở trẻ em và tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ [1]. Tổng quan này nhấn mạnh mối liên hệ phụ thuộc vào liều lượng và lưu ý một số nghiên cứu không tìm thấy ngưỡng tiêu thụ nào mà dưới mức đó nguy cơ biến mất hoàn toàn [1].
Đi sâu vào nguy cơ sảy thai tự nhiên và ốm nghén, một nghiên cứu tiến cứu dựa trên quần thể công bố năm 2001 đã theo dõi 575 phụ nữ sinh một con sống và 75 phụ nữ bị sảy thai tự nhiên [5]. Đối tượng chủ yếu là phụ nữ da trắng, tầng lớp trung lưu được ghi nhận dữ liệu từ trước khi mang thai cho đến lúc sinh hoặc sảy thai [5]. Trong số 71 người không bị buồn nôn, tỷ lệ sảy thai là 29,6%, cao hơn so với mức 7,2% ở 514 người có biểu hiện buồn nôn [5]. Nghiên cứu phát hiện việc dùng caffeine trước khi mang thai hoặc ở phụ nữ không buồn nôn không làm tăng nguy cơ sảy thai [5]. Tuy nhiên, ở nhóm phụ nữ có buồn nôn trong tam cá nguyệt đầu tiên, tiêu thụ từ 300 mg caffeine trở lên mỗi ngày sau khi bắt đầu buồn nôn làm tăng nguy cơ sảy thai gấp 5,4 lần so với mức dưới 20 mg mỗi ngày [5].
Ở nhóm đối tượng đặc thù, một phân tích thứ cấp năm 2004 đã khảo sát các thai phụ mắc đái tháo đường tuýp 1 thông qua phỏng vấn hàng tháng bằng bảng câu hỏi chuẩn hóa [6]. Dữ liệu trên 191 thai kỳ (với 168 trường hợp vượt qua tuần thứ 20) cho thấy việc tiêu thụ caffeine trong giai đoạn đầu mang thai làm tăng nguy cơ sảy thai tự nhiên lên 4,5 lần, bất kể mức độ kiểm soát đường huyết và đã hiệu chỉnh theo tuổi, số năm mắc bệnh, tiền sử sảy thai hay biến chứng thận, võng mạc [6]. Dù vậy, nghiên cứu này cũng ghi nhận việc dùng caffeine sau tuần thứ 20 có liên hệ với giảm nguy cơ tiền sản giật (tỷ số chênh 0,3) [6].
Tác động của caffeine đến cân nặng sơ sinh và sinh non
Về sự phát triển của thai nhi, một nghiên cứu quan sát tiến cứu lớn năm 2008 tại hai bệnh viện phụ sản ở Vương quốc Anh đã theo dõi 2.635 phụ nữ mang thai nguy cơ thấp từ tuần thai 8–12 [2]. Nhóm nghiên cứu định lượng tổng lượng caffeine từ 4 tuần trước thụ thai đến hết thai kỳ, đồng thời đo nồng độ cotinine (chất chuyển hóa của nicotine) và độ thanh thải caffeine qua nước bọt [2]. Sau khi hiệu chỉnh yếu tố rượu và thuốc lá, kết quả cho thấy tiêu thụ caffeine làm tăng nguy cơ hạn chế tăng trưởng bào thai [2]. So với mức dưới 100 mg/ngày, nguy cơ tăng lên 1,2 lần ở mức 100–199 mg/ngày, 1,5 lần ở mức 200–299 mg/ngày và 1,4 lần ở mức trên 300 mg/ngày [2].
Một nghiên cứu tiến cứu khác thực hiện giai đoạn 1996–2000 (công bố năm 2003) tại Connecticut và Massachusetts (Mỹ) đã đánh giá 2.291 bà mẹ sinh một con sống [7]. Các nhà khoa học kết hợp phỏng vấn và phân tích nồng độ caffeine, cotinine, creatinine trong mẫu nước tiểu [7]. Báo cáo tự thuật ở tam cá nguyệt thứ nhất và thứ ba cũng như mỗi mức tăng 1 mg/g creatinine của caffeine niệu không làm thay đổi đáng kể nguy cơ chậm tăng trưởng trong tử cung, nhẹ cân hay sinh non [7]. Tuy nhiên, cân nặng trung bình khi sinh giảm 28 g cho mỗi 100 mg caffeine tiêu thụ hàng ngày [7]. Nhóm tác giả nhận định mức giảm nhỏ này ít có ý nghĩa lâm sàng, ngoại trừ những phụ nữ tiêu thụ từ 600 mg caffeine trở lên mỗi ngày (tương đương khoảng sáu cốc cà phê loại 10 ounce, mỗi ounce bằng 28,3 g) [7]. Nghiên cứu cũng xác nhận cà phê đã khử caffeine không làm tăng nguy cơ cho bất kỳ kết cục chu sinh nào [7].
Đối với nguy cơ sinh non, dữ liệu giữa các khu vực có sự khác biệt [1], [8]. Trong khi tổng quan năm 2020 cho rằng sinh non là kết cục duy nhất không có mối liên hệ đáng tin cậy với caffeine [1], thì Nghiên cứu Sức khỏe Bà mẹ và Trẻ em Osaka (công bố năm 2015) tại Nhật Bản lại chỉ ra góc nhìn khác [8]. Theo dõi 858 phụ nữ Nhật Bản sinh một con bằng bảng câu hỏi lịch sử chế độ ăn uống, nghiên cứu ghi nhận nguồn caffeine chính tại đây là trà Nhật Bản và Trung Quốc (73,5%), tiếp theo mới đến cà phê (14,3%), trà đen (6,6%) và nước ngọt (3,5%) [8]. Sau khi kiểm soát các yếu tố gây nhiễu, mỗi mức tăng 100 mg caffeine/ngày làm tăng 1,28 lần nguy cơ sinh non (sinh trước 37 tuần), và mỗi cốc trà Nhật hoặc Trung Quốc tăng thêm mỗi ngày làm tăng 1,14 lần nguy cơ này [8]. Tuy nhiên, nghiên cứu tại Nhật Bản không thấy mối liên hệ rõ ràng giữa tổng lượng caffeine với tình trạng nhẹ cân (dưới 2.500 g) hay nhỏ so với tuổi thai [8].
Bằng chứng từ thử nghiệm lâm sàng và di truyền học
Để kiểm tra tính nhân quả chặt chẽ hơn nghiên cứu quan sát, một tổng quan hệ thống Cochrane năm 2015 đã rà soát các thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên (RCT) về việc hạn chế caffeine [3]. Có hai nghiên cứu đáp ứng tiêu chuẩn nhưng chỉ một nghiên cứu đóng góp dữ liệu phân tích [3]. Trong thử nghiệm này, những phụ nữ có thói quen uống từ 3 cốc cà phê/ngày trở lên được chia thành hai nhóm trong tam cá nguyệt thứ hai và thứ ba: 568 người dùng cà phê hòa tan có caffeine và 629 người dùng cà phê hòa tan đã khử caffeine [3]. Việc giảm lượng caffeine trung bình 182 mg/ngày không làm thay đổi có ý nghĩa thống kê đối với cân nặng lúc sinh (chênh lệch trung bình 20 g trên 1.197 người), nguy cơ sinh non (tỷ số nguy cơ 0,81 trên 1.153 người) hay tỷ lệ thai nhỏ so với tuổi thai (tỷ số nguy cơ 0,97 trên 1.150 người) [3]. Tuy nhiên, các tác giả đánh giá bằng chứng này có chất lượng thấp và nguy cơ sai lệch ở mức trung bình do cỡ mẫu tương đối nhỏ và khoảng tin cậy rộng [3].
Gần đây hơn, một nghiên cứu ngẫu nhiên hóa Mendel (MR) công bố năm 2022 đã sử dụng dữ liệu di truyền quy mô lớn để đánh giá mối quan hệ nhân quả [4]. Nghiên cứu phân tích hai mẫu từ dữ liệu phân tích gộp toàn hệ gen về tiêu thụ cà phê (91.462 người), kết hợp với dữ liệu sảy thai tự báo cáo (49.996 ca bệnh và 174.109 ca đối chứng), thai lưu (60.453 người từ UK Biobank), tuổi thai và sinh non (43.568 người từ đoàn hệ 23andMe), cùng cân nặng khi sinh (297.356 người tự báo cáo và 210.248 người báo cáo cân nặng con) [4]. Ngoài ra, phân tích điểm nguy cơ di truyền một mẫu cũng được thực hiện trên tối đa 194.196 phụ nữ tại UK Biobank và đoàn hệ ALSPAC (tối đa 6.845 bà mẹ và 4.510 trẻ em) [4]. Kết quả cho thấy cả hai phương pháp phân tích đều không ghi nhận sự thay đổi về nguy cơ sảy thai ngẫu nhiên, thai lưu, sinh non hay tuổi thai liên quan đến uống cà phê [4]. Dù có mối liên hệ giữa tăng uống cà phê và cân nặng sơ sinh cao hơn, mức độ tác động lại không nhất quán [4]. Nghiên cứu kết luận bản thân việc uống cà phê có thể không trực tiếp gây ra các kết cục bất lợi nêu trên [4].
Hiểu lầm thường gặp về nguồn chứa caffeine
Một hiểu lầm phổ biến là chỉ có cà phê mới chứa lượng caffeine đáng kể gây ảnh hưởng đến thai kỳ. Thực tế, caffeine hiện diện trong nhiều loại đồ uống hàng ngày như trà xanh, trà ô long (nhóm trà Nhật Bản và Trung Quốc), trà đen và cả nước ngọt có ga [8]. Tại một số quốc gia châu Á, trà mới là nguồn cung cấp tới 73,5% tổng lượng caffeine ở thai phụ chứ không phải cà phê [8].
Hiểu lầm thứ hai là chỉ cần giảm cà phê từ giữa thai kỳ sẽ loại bỏ được mọi rủi ro. Thử nghiệm lâm sàng cho thấy việc bắt đầu giảm trung bình 182 mg caffeine mỗi ngày từ tam cá nguyệt thứ hai và thứ ba ở người uống nhiều cà phê không tạo ra khác biệt rõ rệt về cân nặng sơ sinh hay sinh non [3]. Trong khi đó, các nguy cơ như sảy thai tự nhiên lại gắn liền mật thiết với việc tiêu thụ caffeine ngay từ tam cá nguyệt đầu tiên và giai đoạn trước thụ thai [2], [6], [5].
Ai nên đặc biệt thận trọng?
Nhóm đầu tiên cần đặc biệt lưu ý là phụ nữ đang có kế hoạch mang thai và thai phụ trong tam cá nguyệt đầu tiên [1], [2], [5]. Đây là giai đoạn nhạy cảm liên quan đến nguy cơ sảy thai tự nhiên, đặc biệt ở những phụ nữ bắt đầu có triệu chứng buồn nôn, ốm nghén [5].
Nhóm thứ hai là phụ nữ mang thai mắc bệnh đái tháo đường tuýp 1 [6]. Ở nhóm này, việc tiêu thụ caffeine trong giai đoạn sớm của thai kỳ làm tăng nguy cơ sảy thai tự nhiên lên 4,5 lần bất chấp việc kiểm soát đường huyết tốt hay xấu [6].
Nhóm thứ ba là những thai phụ có thói quen hút thuốc lá hoặc tiếp xúc với khói thuốc [7], [6]. Phân tích nước tiểu cho thấy sự gia tăng nồng độ cotinine làm tăng đáng kể nguy cơ chậm tăng trưởng trong tử cung [7], và hút thuốc đầu thai kỳ ở người đái tháo đường tuýp 1 làm tăng 3,3 lần nguy cơ sảy thai [6]. Ngoài ra, những phụ nữ thường xuyên uống nhiều cà phê (từ 3 cốc/ngày hoặc từ 200–600 mg caffeine/ngày trở lên) cũng thuộc nhóm nguy cơ cao làm giảm cân nặng thai nhi [3], [2], [7].
Áp dụng thực tế cho phụ nữ mang thai
Vì chưa xác định được ngưỡng an toàn tuyệt đối [1], [2], hướng tiếp cận thận trọng nhất được các nhà nghiên cứu khuyến nghị là giảm lượng caffeine từ trước khi thụ thai và duy trì hạn chế trong suốt thai kỳ [2], hoặc tốt nhất là tránh dùng hoàn toàn [1]. Nếu chưa thể bỏ ngay, thai phụ nên giữ tổng lượng tiêu thụ ở mức thấp nhất có thể, tránh vượt quá ngưỡng 100 mg/ngày [2] và tuyệt đối tránh mức cao từ 200–300 mg/ngày trở lên [2], [5].
Khi tính toán lượng tiêu thụ, mẹ bầu cần cộng gộp tất cả các nguồn chứa caffeine trong ngày bao gồm cà phê, trà xanh, trà đen và nước ngọt [8]. Đối với những người khó từ bỏ hương vị cà phê mỗi sáng, việc chuyển sang sử dụng cà phê đã khử caffeine (decaf) là một giải pháp thay thế hợp lý, do dữ liệu cho thấy loại đồ uống này không làm tăng nguy cơ cho các kết cục chu sinh [7].
Cuối cùng, mỗi thai phụ có cơ địa và tốc độ chuyển hóa khác nhau [2]. Phụ nữ đang mang thai, đặc biệt là người có tiền sử sảy thai hoặc mắc bệnh lý nền như đái tháo đường, nên trao đổi trực tiếp với bác sĩ sản khoa để nhận được lời khuyên dinh dưỡng phù hợp nhất với tình trạng sức khỏe của mình.



