Làm việc nhiều giờ trước màn hình máy tính khiến mắt nhức mỏi, khô rát. Nhiều người pha ấm trà hoa cúc uống để thư giãn mắt, nhưng đứng trước kệ hàng lại phân vân không biết chọn cúc vàng hay cúc trắng mới tốt cho thị lực.

Cả hoa cúc vàng và hoa cúc trắng đều chứa hoạt chất chống oxy hóa, kháng viêm bảo vệ mắt [1]. Y học cổ truyền và dược điển ghi nhận nhóm cúc trồng (Chrysanthemum morifolium - gồm cả giống hoa trắng và hoa vàng) thiên về làm sáng mắt, trong khi cúc vàng mọc hoang (Chrysanthemum indicum) mạnh về thanh nhiệt, giải độc, chống viêm [2]. Lựa chọn loại nào tùy thuộc tình trạng mắt mỏi do ánh sáng hay kèm sưng viêm.

Phân biệt các loài hoa cúc làm trà phổ biến

Thị trường trà thảo mộc phân chia hoa cúc thành hai loài thực vật chính thuộc cùng một chi: Chrysanthemum morifolium (cúc trồng làm trà, dược liệu) và người họ hàng mọc hoang là Chrysanthemum indicum (cúc chỉ thiên, thường có hoa vàng nhỏ) [2]. Hai loài này có đặc điểm hình thái và vi học khá giống nhau nhưng được phân biệt trong mục đích làm thực phẩm hay làm thuốc [2]. Tại châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, cả hai loài hoa cúc này đã được sử dụng rộng rãi làm thực phẩm bổ sung, trà thảo mộc và thực phẩm bảo vệ sức khỏe suốt 3.000 năm qua [2].

Trong loài cúc trồng Chrysanthemum morifolium, người trồng tiếp tục phân thành nhiều giống theo màu sắc và vùng địa lý như giống cúc trắng 'Hang bai ju' (Hàng bạch cúc), hay giống cúc vàng 'Hang huang ju' và 'Huangju' (Hoàng cúc), cùng các giống 'Boju', 'Chuju', 'Gongju' [3], [4]. Một nghiên cứu công bố năm 2010 khảo sát 12 mẫu dược liệu cúc cho thấy sự khác biệt rõ rệt ở cơ quan sinh dưỡng như hình dạng lá giữa các giống cúc trắng, cúc vàng thuộc loài C. morifolium và loài C. indicum [3].

Về công năng ghi trong Dược điển Trung Quốc, hoa của loài C. morifolium được dùng để tán hàn, thanh nhiệt giải độc và làm sáng mắt [2]. Trong khi đó, hoa cúc vàng hoang dã C. indicum chủ yếu dùng để giải độc nhiệt [2]. Một tổng quan năm 2024 lại chỉ ra cả C. indicum và C. morifolium đều mang công dụng thanh can, minh mục (làm sạch gan và cải thiện thị lực) [1].

Cơ chế bảo vệ mắt từ dưỡng chất trong hoa cúc

Mỏi mắt (asthenopia) phổ biến ở cả người lớn và trẻ em, xuất phát từ tật khúc xạ chưa chỉnh kính, mất cân bằng cơ vận nhãn, rối loạn điều tiết hoặc ánh sáng không phù hợp [5]. Tình trạng này thường gắn liền với việc mắt phải điều tiết và hội tụ cường độ cao khi nhìn màn hình điện tử thời gian dài [5]. Ánh sáng mạnh và quá trình oxy hóa tạo ra các gốc tự do (ROS) dư thừa, gây tổn thương DNA, protein và lipid của tế bào [4].

Hoạt chất chính giúp hoa cúc bảo vệ mắt là nhóm flavonoid [1]. Khi rà soát cơ sở dữ liệu y sinh về 4 loài hoa dược liệu gồm cúc C. indicum, cúc C. morifolium, mật mông hoa và hoa hòe, các nhà khoa học tìm thấy tổng cộng 125 hợp chất flavonoid [1]. Nhóm chất này duy trì cân bằng nội môi ở gan và mắt thông qua việc điều hòa các cơ chế bệnh lý: giảm căng thẳng oxy hóa (oxidative stress), kháng viêm, giảm căng thẳng lưới nội chất, cải thiện rối loạn chức năng ty thể, điều hòa chuyển hóa đường - mỡ và kiểm soát quá trình chết tế bào theo chương trình [1].

Bên cạnh flavonoid, đường đa (polysaccharides) cũng là thành phần hoạt tính sinh học chính trong trà hoa cúc [4]. Các phân tử đường đa này có khả năng dọn dẹp gốc tự do và chống lại quá trình đường hóa (antiglycation), góp phần ngăn ngừa tổn thương tế bào do oxy hóa [4]. Tinh dầu chiết xuất từ đầu hoa của cả hai loài cúc cũng chứa các hợp chất terpene ưa béo và chất chống oxy hóa giúp cắt đứt chuỗi phản ứng gốc tự do, phá hủy peroxide [6].

Nghiên cứu khoa học nói gì về hoa cúc và đôi mắt?

Một nghiên cứu năm 2024 tổng hợp dữ liệu từ Web of Science, PubMed, CNKI, Google Scholar và WanFang đã đánh giá vai trò của flavonoid trong C. indicum và C. morifolium đối với các bệnh lý mắt gồm: hội chứng khô mắt, đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp (glaucoma), thoái hóa điểm vàng tuổi già và bệnh võng mạc tiểu đường [1]. Kết quả cho thấy các flavonoid phát huy tác dụng chống oxy hóa, kháng viêm, kháng virus, chống xơ hóa và điều hòa sự hình thành mạch máu mới, qua đó giải thích cơ sở khoa học cho công dụng cải thiện thị lực của hoa cúc [1]. Giới hạn của nghiên cứu này là tổng hợp chung nhóm 4 loài hoa dược liệu chứ không tách riêng từng tỷ lệ phần trăm hiệu quả lâm sàng trên người của riêng từng giống cúc [1].

Để kiểm chứng khả năng bảo vệ võng mạc trước ánh sáng mạnh, một nghiên cứu năm 2020 đã thử nghiệm tổ hợp thảo dược gồm chiết xuất hoa cúc, kỷ tử, lý chua đen, lutein ester và zeaxanthin trên cả mô hình động vật và tế bào [5]. Ở động vật tiếp xúc ánh sáng mạnh 15.000 lx trong 2 giờ, sóng a và sóng b trên điện võng mạc đồ bị suy giảm đáng kể, độ dày lớp nhân ngoài (ONL) của võng mạc bị mỏng đi [5]. Việc bổ sung tổ hợp có hoa cúc giúp phục hồi sóng b và cải thiện đáng kể độ dày lớp nhân ngoài võng mạc [5]. Trên dòng tế bào biểu mô sắc tố võng mạc người (ARPE-19) bị chiếu sáng 2.900 lx trong 30 phút, riêng chiết xuất hoa cúc đã chứng minh khả năng làm giảm sự phosphoryl hóa của hai protein gây viêm/chết tế bào là p38 và JNK, đồng thời phục hồi biểu hiện yếu tố HIF giúp tế bào sống sót [5].

Về sự khác biệt thành phần chống viêm và chống oxy hóa giữa các loại cúc, nghiên cứu năm 2021 phân tích sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) trên 53 lô hoa C. morifolium và 33 lô hoa C. indicum, kết hợp thử nghiệm trên chuột bị gây viêm bằng lipopolysaccharide [2]. Nghiên cứu xác nhận hai loài có sự khác biệt về hiệu quả kháng viêm và xây dựng được phương trình hồi quy để phân biệt chúng dựa trên dấu ấn hóa học [2].

Tiếp nối hướng này, một nghiên cứu năm 2025 trên tế bào gan chuột nuôi cấy sơ cấp bị kích thích viêm bằng interleukin (IL)-1beta đã phân lập 8 dẫn xuất flavone từ hoa cúc vàng C. indicum [7]. Trong đó, luteolin là hợp chất dồi dào nhất [7]. Tất cả 8 chất đều ức chế sản sinh nitric oxide (NO) gây viêm, mạnh nhất là apigenin và acacetin [7]. Luteolin và acacetin làm giảm mức mRNA của enzyme iNOS và các cytokine tiền viêm như TNF, IL-6 [7]. Nhóm tác giả kết luận luteolin, jaceosidin và diosmetin là các chất chính tạo nên tác dụng kháng viêm của hoa C. indicum [7].

Khi so sánh trực tiếp hoạt tính chống oxy hóa của tinh dầu hai loài, nghiên cứu năm 2020 cho thấy tinh dầu đầu hoa C. indicum có chỉ số IC50 (nồng độ ức chế 50% gốc tự do - số càng nhỏ hoạt tính càng mạnh) lần lượt là 2,21 mg/mL (thử nghiệm DPPH), 1,90 mg/mL (thử nghiệm HRS) và 4,40 mg/mL (thử nghiệm SORS) [6]. Trong khi đó, tinh dầu hoa C. morifolium có chỉ số IC50 tương ứng là 2,59 mg/mL (DPPH), 2,89 mg/mL (HRS) và 5,92 mg/mL (SORS) [6]. Như vậy, xét riêng về tinh dầu trong ống nghiệm, loài cúc vàng C. indicum thể hiện tiềm năng dọn gốc tự do nhỉnh hơn một chút so với C. morifolium [6].

Một nghiên cứu khác năm 2019 đã so sánh trực tiếp đường đa (polysaccharides) chiết xuất từ các loại trà hoa cúc khác nhau thu thập tại Trung Quốc, bao gồm cúc C. indicum, cúc vàng C. morifolium 'Huangju', cúc 'Gongju', cúc trắng C. morifolium 'Hangbaiju' và cúc Coreopsis tinctoria [4]. Kết quả đo lường cho thấy hàm lượng tổng axit uronic của các loại trà cúc này dao động từ 28,4% đến 36,2%, và tổng hợp chất phenolic đạt từ 9,4 đến 70,2 mg GAE trên mỗi gam [4]. Các đường đa này cấu tạo chủ yếu từ axit galacturonic, arabinose và galactose, đều thể hiện hoạt tính dọn gốc tự do ABTS, DPPH, nitric oxide, hydroxyl và chống đường hóa mạnh mẽ [4].

Ưu điểm và giới hạn của các bằng chứng hiện tại

Các nghiên cứu hiện tại đã vạch rõ được thành phần hóa học có lợi cho mắt trong cả hoa cúc vàng và hoa cúc trắng, nổi bật là 125 hoạt chất flavonoid, các dẫn xuất flavone như luteolin, apigenin cùng nhóm đường đa và tinh dầu chống oxy hóa [1], [7], [6], [4]. Cơ chế bảo vệ tế bào biểu mô võng mạc khỏi tác hại của ánh sáng cường độ cao cũng đã được chứng minh trực tiếp trên mô hình tế bào ARPE-19 và động vật [5].

Tuy nhiên, giới hạn lớn nhất là hầu hết dữ liệu đều dừng lại ở mô hình trong ống nghiệm (in vitro), trên tế bào nuôi cấy hoặc trên động vật thí nghiệm như chuột [2], [7], [5], [6]. Chưa có thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên quy mô lớn trên người để đo lường trực tiếp việc uống bao nhiêu tách trà cúc vàng hay cúc trắng mỗi ngày sẽ giảm được bao nhiêu độ cận hay chữa khỏi bệnh mắt. Thêm vào đó, nghiên cứu bảo vệ võng mạc năm 2020 sử dụng hoa cúc kết hợp cùng kỷ tử, lý chua đen, lutein ester và zeaxanthin, nên hiệu quả phục hồi võng mạc trên động vật là công sức chung của cả tổ hợp chứ không phải của riêng hoa cúc đơn độc [5].

Những hiểu lầm thường gặp khi uống trà hoa cúc bổ mắt

Hiểu lầm phổ biến nhất là cho rằng hoa cúc chứa nhiều lutein tự nhiên giống như các viên uống bổ mắt, vì nghe tên hoạt chất "luteolin" trong hoa cúc khá giống "lutein" [7], [5]. Thực tế, luteolin trong hoa cúc là một dẫn xuất flavone có tác dụng kháng viêm, chống oxy hóa [7]. Còn lutein là một hợp chất carotenoid giúp bảo vệ mắt khỏi căng thẳng oxy hóa từ các photon năng lượng cao của ánh sáng xanh, thường được chiết xuất từ vi tảo như Chlorella vulgaris hoặc phối hợp thêm vào các công thức cùng chiết xuất hoa cúc [5], [8].

Hiểu lầm thứ hai là tin rằng uống trà hoa cúc có thể thay thế hoàn toàn thuốc điều trị các bệnh lý nhãn khoa nghiêm trọng như đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp hay thoái hóa điểm vàng. Dù flavonoid trong hoa cúc có tác dụng hỗ trợ điều hòa các cơ chế viêm và oxy hóa liên quan đến những bệnh này, trà hoa cúc chỉ đóng vai trò thức uống hỗ trợ sức khỏe, không phải là thuốc chữa khỏi bệnh [1], [2].

Hiểu lầm thứ ba là đánh đồng mọi loại hoa cúc vàng đều giống nhau. Thực tế, cúc vàng có thể là giống 'Huangju' thuộc loài cúc trồng C. morifolium (thiên về làm trà uống sáng mắt, thanh nhiệt), hoặc là loài cúc hoang C. indicum (vị đắng hơn, dược tính kháng viêm, giải độc nhiệt mạnh hơn) [2], [4].

Ai nên thận trọng khi sử dụng trà hoa cúc?

Theo Dược điển Trung Quốc, cả C. morifolium và C. indicum đều có tính chất thanh nhiệt, giải độc, tán hàn [2]. Những người có cơ địa hay bị lạnh bụng, tiêu chảy do hàn nên thận trọng, không nên uống trà hoa cúc quá đặc hoặc uống lúc bụng đói.

Trong nghiên cứu năm 2020, tinh dầu hoa cúc C. indicum và C. morifolium ở nồng độ cao trong ống nghiệm có thể tương tác với màng lipid và protein gây độc tế bào dòng HL-60 ở mức IC50 lần lượt là 88,24 và 68,84 microgam/mL [6]. Dù lượng tinh dầu hòa tan trong một tách trà pha nước nóng thông thường rất nhỏ, người dùng vẫn chỉ nên uống ở mức độ vừa phải, không tự ý uống tinh dầu hoa cúc nguyên chất.

Người có tiền sử dị ứng với các loài thực vật họ Cúc, phụ nữ mang thai, đang cho con bú, hoặc người đang mắc các bệnh lý gan, mắt mạn tính đang dùng thuốc điều trị theo đơn cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi dùng trà hoa cúc thường xuyên.

Cách pha và kết hợp trà hoa cúc tốt cho thị lực

Để tận dụng cả nhóm flavonoid và đường đa tan trong nước, bạn nên hãm hoa cúc khô với nước ấm khoảng 80-90 độ C trong 5-10 phút. Nếu mục đích chính là uống hàng ngày để thư giãn, giảm mỏi mắt khi làm việc máy tính, các giống cúc trồng C. morifolium như cúc trắng ('Hangbaiju') hoặc cúc vàng ('Huangju', 'Gongju') là lựa chọn phù hợp nhờ hương vị dịu và công năng làm sáng mắt truyền thống [2], [4]. Nếu cơ thể đang có biểu hiện nhiệt độc, sưng viêm, cúc vàng C. indicum sẽ cung cấp hàm lượng luteolin kháng viêm mạnh mẽ hơn [2], [7].

Dựa trên nghiên cứu năm 2020, việc kết hợp hoa cúc cùng các nguyên liệu khác sẽ mang lại hiệu quả bảo vệ võng mạc toàn diện hơn [5]. Khi pha trà, bạn có thể cho thêm một ít hạt kỷ tử khô (goji berry) để tăng cường cơ chế giúp tế bào biểu mô võng mạc sống sót trước tác hại của ánh sáng mạnh [5].

Bên cạnh việc uống trà, cần kết hợp chế độ dinh dưỡng giàu lutein và zeaxanthin từ rau lá xanh đậm, trái cây sẫm màu, đồng thời điều chỉnh ánh sáng phòng làm việc hợp lý và cho mắt nghỉ ngơi định kỳ để giảm tải áp lực điều tiết [5], [8].

Hoa cúc trắng và hoa cúc vàng đều là những thức uống thảo mộc giá trị, cung cấp hệ dưỡng chất flavonoid và đường đa giúp chống oxy hóa, kháng viêm cho đôi mắt [1], [4]. Không có loại nào vượt trội tuyệt đối; cúc trồng (trắng hoặc vàng) hợp để dưỡng mắt hàng ngày, trong khi cúc vàng hoang dã mạnh về kháng viêm, giải độc [2], [7]. Hãy lắng nghe cơ thể, kết hợp uống trà hoa cúc kỷ tử vừa phải cùng thói quen sinh hoạt khoa học để giữ gìn thị lực bền lâu [5].