Thói quen bổ sung dầu hoa anh thảo (Evening Primrose Oil) để chăm sóc da, giảm đau ngực hay hỗ trợ sức khỏe phụ nữ rất phổ biến hiện nay. Nhiều người duy trì uống viên dầu này suốt nửa năm hoặc lâu hơn nhưng lo lắng liệu dùng dài ngày có gây hại cho cơ thể.
Các dữ liệu lâm sàng cho thấy việc uống dầu hoa anh thảo kéo dài từ 6 tháng đến 12 chu kỳ kinh nguyệt nhìn chung an toàn với đa số người dùng, nhưng vẫn có thể xuất hiện tác dụng phụ trên đường tiêu hóa như buồn nôn [1] [2]. Hiệu quả thực tế của loại dầu này cũng không phải lúc nào cũng vượt trội so với giả dược, do đó người dùng cần nắm rõ liều lượng và giới hạn tác dụng trước khi chi tiền mua uống dài hạn [1] [2] [3].
Cơ chế tác động của các axit béo trong dầu hoa anh thảo
Dầu hoa anh thảo có tên khoa học là Oenothera biennis, chứa thành phần cốt lõi là các axit béo thiết yếu thuộc nhóm omega-6 không bão hòa đa [1] [4] [5]. Hai hoạt chất chính trong loại dầu này là axit linoleic và axit gamma-linolenic (GLA) [4] [3].
Khi đi vào cơ thể, các axit béo này tham gia cấu tạo màng tế bào và chịu sự điều hòa của các enzyme chuyển hóa như delta-5 và delta-6-desaturase [5] [6]. Quá trình này tác động đến việc sản sinh axit arachidonic và các chất trung gian như prostaglandin E1, prostaglandin E2 [4] [5].
Các nhà khoa học đưa ra giả thuyết rằng dầu hoa anh thảo có thể ức chế quá trình tạo mỡ (lipogenesis), làm thay đổi thành phần axit béo màng tế bào và ức chế điều hòa các enzyme protein kinase [5]. Ngoài ra, hoạt chất chuyển hóa từ dầu còn ảnh hưởng đến dòng ion natri và dẫn truyền khớp thần kinh, hoặc hỗ trợ chống lại quá trình peroxy hóa lipid gây tổn thương mô trong các mô hình thử nghiệm [4] [7].
Nghiên cứu nói gì về việc dùng kéo dài và tác dụng phụ?
Để đánh giá độ an toàn khi uống liên tục trên 6 tháng, cần nhìn vào thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm, mù đôi, có đối chứng giả dược quy mô lớn được đề cập trong tổng quan năm 2019 trên 555 phụ nữ bị đau vú từ trung bình đến nặng [1]. Bệnh nhân được chia ngẫu nhiên thành 4 nhóm dùng axit gamma-linolenic kèm chất chống oxy hóa hoặc các tổ hợp giả dược tương ứng trong 4 chu kỳ kinh nguyệt đầu tiên [1]. Liều dùng hàng ngày là 4 g dầu hoa anh thảo (cung cấp 320 mg axit gamma-linolenic và 10 mg vitamin E tự nhiên), kết hợp viên chống oxy hóa chứa 3 mg beta-carotene, 100 mg vitamin C, 25 mg vitamin B6, 10 mg kẽm, 10 mg niacin và 455 microg selen [1]. Sau 1 tháng nghỉ ngưng thuốc (wash-out), các bệnh nhân tiếp tục nhận dầu hoa anh thảo thêm 8 chu kỳ kinh nguyệt nữa [1]. Kết thúc hai giai đoạn, tỷ lệ người hoàn thành lần lượt là 77% và 69%, điểm đau vú đều cải thiện nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 4 nhóm (P > 0.05) [1]. Tác dụng phụ phổ biến nhất được ghi nhận trong quá trình điều trị kéo dài này là chứng buồn nôn [1].
Một nghiên cứu lâm sàng mù đôi khác cũng được trích dẫn năm 2019 thực hiện trên 80 phụ nữ Ai Cập bị đau vú theo chu kỳ [1]. Nhóm 1 (36 người) uống 5 mg thuốc bromocriptine kết hợp 2 g dầu hoa anh thảo mỗi ngày; nhóm 2 (40 người) điều trị bằng tia laser cường độ thấp [1]. Tỷ lệ đáp ứng điều trị ở nhóm uống dầu hoa anh thảo cộng thuốc là 63,9%, thấp hơn mức 82,5% của nhóm chiếu laser [1]. Đáng chú ý, có 37,5% bệnh nhân báo cáo gặp tác dụng phụ gồm buồn nôn, khó chịu vùng thượng vị, nôn mửa và chóng mặt sau khi sử dụng phác đồ có bromocriptine [1].
Về mốc thời gian 6 tháng, một nghiên cứu công bố năm 2000 đã theo dõi trực tiếp tác động của dầu hoa anh thảo trên bệnh nhân có u xơ tuyến vú (fibroadenomas) được chẩn đoán lâm sàng suốt 6 tháng liên tục [2]. Kết quả cho thấy 11 trên 21 khối u (52%) ở nhóm uống dầu hoa anh thảo giảm kích thước, trong khi ở nhóm đối chứng không dùng cũng có 8 trên 19 khối u (42%) tự nhỏ lại [2]. Nghiên cứu kết luận việc uống dầu hoa anh thảo 6 tháng không làm thay đổi đáng kể diễn tiến tự nhiên của u xơ tuyến vú [2].
Đối với bệnh lý da liễu, hai nghiên cứu cùng công bố năm 1985 lại cho kết quả trái ngược nhau [6] [3]. Nghiên cứu thứ nhất thiết kế mù đôi, đối chứng bắt chéo trên 99 bệnh nhân viêm da cơ địa (kèm phân tích phospholipid huyết tương ở 50 người và tế bào lympho ở 15 người) kết luận dầu hoa anh thảo giúp cải thiện bệnh, có thể do khắc phục sự bất thường của enzyme delta-6-desaturase chứ không qua cơ chế miễn dịch [6]. Ngược lại, nghiên cứu thứ hai năm 1985 cũng dùng thiết kế mù đôi bắt chéo trên 123 bệnh nhân chàm thể tạng (atopic eczema) mức độ trung bình, cho uống liều khá cao: 2 hoặc 4 g mỗi ngày ở trẻ em, 6 hoặc 8 g mỗi ngày ở người lớn [3]. Kết quả không tìm thấy bất kỳ tác dụng đáng kể nào đối với tình trạng đỏ da, bong vảy, trầy xước, dày sừng hay độ nặng toàn diện của bệnh [3].
Tác động lên thận, mô tạng và hiệu quả khi bôi ngoài da
Bên cạnh các thử nghiệm dài ngày ở phụ nữ và người bệnh da liễu, dầu hoa anh thảo còn được khảo sát trên nam giới khỏe mạnh [5]. Một nghiên cứu năm 2009 thực hiện trên 8 nam giới da đen và 8 nam giới da trắng khỏe mạnh, cho uống 1.000 mg dầu hoa anh thảo mỗi ngày trong 20 ngày với chế độ ăn tự do [5]. Mẫu nước tiểu 24 giờ thu thập vào ngày 0, 10, 20 và 4 ngày sau khi ngưng uống cho thấy lượng citrate bài tiết qua nước tiểu tăng đáng kể, trong khi canxi niệu và chỉ số nguy cơ tạo sỏi Tiselius giảm rõ rệt ở cả hai nhóm; lượng oxalat niệu có xu hướng giảm ở nhóm da đen [5]. Nghiên cứu gợi ý dầu hoa anh thảo có tiềm năng hỗ trợ bảo tồn đối với sỏi thận canxi oxalat, dù mức độ nhạy cảm có sự khác biệt giữa các chủng tộc [5].
Khi dùng đường bôi ngoài da, nghiên cứu năm 1999 trên hai nhóm (mỗi nhóm 20 người bị viêm da cơ địa) đã thử nghiệm bôi dầu hoa anh thảo trong 4 tuần và ngưng 1 tuần để đo độ mất nước qua biểu bì và độ ẩm lớp sừng [8]. Kết quả chứng minh dầu hoa anh thảo giúp ổn định hàng rào bảo vệ lớp sừng, nhưng tác dụng này chỉ xuất hiện khi pha chế trong hệ nhũ tương nước trong dầu (water-in-oil), hoàn toàn không có tác dụng nếu dùng hệ nhũ tương lưỡng tính (amphiphilic) [8].
Ở cấp độ thử nghiệm động vật, nghiên cứu năm 2011 trên 48 con chuột đực (nặng 30-35 g, 6-8 tuần tuổi) chia làm 4 nhóm (mỗi nhóm 12 con) đã kiểm tra khả năng bảo vệ mô của dầu hoa anh thảo trong 14 ngày [7]. Nhóm chuột bị gây nhiễm độc aflatoxin bán cấp (liều 1.250 microg/kg cân nặng/ngày) khi được cho dùng kèm dầu hoa anh thảo qua ống thông (liều 1,5 ml/kg cân nặng/ngày) đã có sự cải thiện tích cực về tình trạng peroxy hóa lipid (đo qua chỉ số MDA và các enzyme chống oxy hóa SOD, CAT, GSH-Px) tại gan, phổi, thận, não, tim và lá lách [7].
Lợi ích thực tế và giới hạn của bằng chứng khoa học
Từ các dữ liệu trên, có thể thấy lợi ích của dầu hoa anh thảo không đồng nhất ở mọi đối tượng. Loại dầu này ghi nhận tín hiệu tích cực trong việc giảm các yếu tố nguy cơ tạo sỏi canxi oxalat ở đường tiết niệu nam giới hoặc cải thiện triệu chứng ở một số nhóm viêm da cơ địa nhất định [5] [6]. Khi dùng bôi ngoài da đúng chất dẫn, nó giúp củng cố hàng rào giữ ẩm biểu bì [8].
Tuy nhiên, giới hạn của bằng chứng khoa học là rất rõ ràng. Trong các vấn đề thường được quảng cáo rầm rộ nhất như giảm đau vú hay làm tiêu u xơ tuyến vú, các thử nghiệm đối chứng quy mô lớn và theo dõi suốt 6 tháng đến 12 chu kỳ đều cho thấy hiệu quả của dầu hoa anh thảo không vượt trội hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm dùng giả dược hoặc nhóm không can thiệp [1] [2]. Tương tự, việc uống liều cao tới 6-8 g mỗi ngày cũng không giúp giảm chàm thể tạng ở nhiều bệnh nhân [3]. Người tiêu dùng không nên kỳ vọng đây là "thần dược" chữa khỏi mọi rối loạn nội tiết hay bệnh lý tuyến vú.
Hiểu lầm thường gặp: Dầu hoa anh thảo có gây động kinh?
Một trong những nỗi sợ lớn nhất khi tra cứu thông tin về tác dụng phụ của dầu hoa anh thảo là nguy cơ gây co giật hoặc làm giảm ngưỡng chịu đựng cơn động kinh [4]. Lo ngại này bắt nguồn từ hai bài báo khoa học xuất bản vào đầu những năm 1980 [4].
Tuy nhiên, một nghiên cứu đánh giá lại toàn diện công bố năm 2007 đã chứng minh mối liên hệ giữa dầu hoa anh thảo và chứng co giật là sai lệch (spurious) [4]. Các phân tích cho thấy axit linoleic và axit gamma-linolenic hoàn toàn an toàn cho người bệnh động kinh; thậm chí việc uống kéo dài hỗn hợp axit linoleic và alpha-linolenic (tỷ lệ 4:1) còn bảo vệ chuột khỏi cơn co giật trong 4 mô hình động kinh khác nhau [4]. Hơn nữa, axit arachidonic chuyển hóa từ dầu hoa anh thảo giúp ức chế dòng ion natri và dẫn truyền khớp thần kinh, còn chất prostaglandin E1 có hoạt tính chống co giật [4]. Do đó, các nhà khoa học kiến nghị các dược thư nên gỡ bỏ co giật/động kinh khỏi danh sách tác dụng phụ và chống chỉ định của dầu hoa anh thảo [4].
Ai nên thận trọng khi sử dụng?
Dù đã được giải oan về nguy cơ gây động kinh, người dùng dầu hoa anh thảo kéo dài vẫn cần lưu ý các phản ứng bất lợi trên hệ tiêu hóa [1] [4]. Triệu chứng buồn nôn là tác dụng phụ phổ biến nhất được ghi nhận khi uống liên tục qua nhiều chu kỳ kinh nguyệt [1].
Những người đang phải điều trị phối hợp bằng thuốc chuyên khoa (chẳng hạn như thuốc bromocriptine trong điều trị đau vú) cần đặc biệt thận trọng vì tỷ lệ gặp tác dụng phụ như buồn nôn, đau tức vùng thượng vị, nôn mửa và chóng mặt lên tới 37,5% [1]. Ngoài ra, cơ địa và chủng tộc khác nhau cũng làm thay đổi mức độ nhạy cảm của cơ thể đối với việc bổ sung axit béo thiết yếu này [5]. Phụ nữ có khối u ở ngực hoặc người có bệnh nền mạn tính, đang dùng thuốc điều trị bắt buộc phải tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi dùng, tuyệt đối không tự ý uống dầu hoa anh thảo để thay thế phác đồ y tế.
Cách áp dụng thực tế và liều lượng khuyến nghị
Trong các nghiên cứu lâm sàng ở người lớn, liều lượng dầu hoa anh thảo đường uống được sử dụng rất đa dạng tùy mục đích: mức 1.000 mg (1 g) mỗi ngày dùng trong 20 ngày để khảo sát yếu tố nguy cơ sỏi thận; mức 2 g đến 4 g mỗi ngày (cung cấp khoảng 320 mg axit gamma-linolenic và 10 mg vitamin E) dùng trong các nghiên cứu về đau vú kéo dài từ 4 đến 12 chu kỳ kinh nguyệt; hoặc lên tới 6-8 g mỗi ngày ở người lớn (2-4 g ở trẻ em) trong thử nghiệm bệnh chàm [1] [5] [3]. Người dùng phổ thông nên bắt đầu từ liều thấp khoảng 1.000 mg đến 2.000 mg mỗi ngày theo hướng dẫn trên nhãn sản phẩm và uống cùng bữa ăn để giảm thiểu cảm giác buồn nôn [1] [5].
Nếu sử dụng sau 4 đến 6 tháng mà các triệu chứng đau tức ngực hoặc khô viêm da không cải thiện rõ rệt, bạn nên cân nhắc ngưng sử dụng để tránh lãng phí, bởi nghiên cứu đã chỉ ra khả năng không đáp ứng ở nhiều cơ địa [1] [2] [3]. Trường hợp muốn dùng dạng kem bôi ngoài da để hỗ trợ viêm da cơ địa, người bệnh nên chọn sản phẩm có nền tá dược là hệ nhũ tương nước trong dầu (water-in-oil) và bôi duy trì ít nhất 4 tuần để đạt hiệu quả ổn định hàng rào bảo vệ da [8].
Tóm lại, uống dầu hoa anh thảo liên tục trên 6 tháng không gây ra các biến chứng nguy hiểm như co giật, nhưng có thể gây buồn nôn và hiệu quả cải thiện đau vú hay u xơ vú thường không khác biệt nhiều so với tự nhiên [1] [4] [2]. Người dùng nên giữ tâm lý thực tế, tuân thủ liều lượng từ 1-4 g/ngày tùy mục đích, lắng nghe phản ứng tiêu hóa của cơ thể và luôn hỏi ý kiến bác sĩ nếu đang có bệnh lý nền [1] [5].




