Thói quen tự sắc các loại rễ cây, thảo mộc thành nước uống giải nhiệt hàng ngày thay trà rất phổ biến ở nhiều gia đình Việt. Trong số đó, rễ cây qua lâu (còn gọi là thiên hoa phấn) thường được truyền tai nhau dùng để thanh nhiệt, làm mát cơ thể. Tuy nhiên, việc uống loại nước rễ cây này liên tục mỗi ngày có thực sự an toàn cho gan và thận hay không là câu hỏi khiến nhiều người băn khoăn.
Câu trả lời ngắn gọn là bạn không nên tự ý uống nước rễ qua lâu thay trà hàng ngày. Dù là thảo dược tự nhiên, các sản phẩm rễ qua lâu thương mại rất dễ bị nhầm lẫn giữa các loài thực vật khác nhau [1]. Đồng thời, hiện chưa có bằng chứng lâm sàng trong các dữ liệu nghiên cứu được cung cấp khẳng định tính an toàn cho gan và thận khi uống rễ qua lâu kéo dài mỗi ngày, trong khi gan và thận vốn là hai cơ quan rất nhạy cảm với việc tích tụ độc tính từ các hoạt chất dùng dài ngày [2].
Rễ qua lâu là gì và vì sao dễ bị nhầm lẫn?
Qua lâu (tên khoa học Trichosanthes kirilowii) là một loài thực vật thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae) [1]. Trong y học cổ truyền và thương mại, nhiều bộ phận của cây như quả, hạt và rễ được thu hoạch và chế biến thành dược liệu thô [1]. Bên cạnh công dụng làm thuốc, hạt của loài Trichosanthes kirilowii Maxim còn là nguồn cung cấp dầu thực vật ăn được có giá trị dinh dưỡng cao [3].
Tuy nhiên, người tiêu dùng khi mua rễ qua lâu khô về nấu nước uống đối mặt với một rủi ro lớn ngay từ khâu nguyên liệu: sự nhầm lẫn giữa các loài. Tổ hợp loài Trichosanthes kirilowii có hình thái rất giống với các loài cùng chi khác trong họ Bầu bí, khiến việc phân biệt bằng mắt thường khi đã thái lát hoặc phơi khô gần như bất khả thi [1].
Khi bạn uống một loại nước sắc mỗi ngày mà không biết chính xác đó là rễ của loài cây nào, cơ thể sẽ phải tiếp nhận những hợp chất hóa học không xác định. Điều này đặt gánh nặng chuyển hóa trực tiếp lên hệ thống nội tạng.
Cơ chế gan, thận chịu áp lực khi nạp dược liệu dài ngày
Để hiểu vì sao không nên uống các loại nước sắc dược liệu thay nước lọc hay trà mỗi ngày, cần nhìn vào vai trò sinh lý của gan và thận. Đây là hai "nhà máy" lọc và đào thải các chất ngoại lai (bao gồm cả thuốc tây lẫn hoạt chất từ thảo mộc) ra khỏi cơ thể.
Trong đó, thận là cơ quan chính đảm nhiệm việc bài tiết thuốc và các chất chuyển hóa, nhận tới gần 25% lưu lượng máu từ tim bơm ra ở mỗi chu kỳ [2]. Chính vì lượng máu đi qua quá lớn và liên tục, các tiểu động mạch thận và hệ thống mao mạch cầu thận trở nên cực kỳ nhạy cảm trước các tác nhân có khả năng gây độc [2]. Khi một hoạt chất đi vào máu ngày này qua ngày khác, nồng độ chất đó tại ống thận và mô kẽ thận sẽ duy trì ở mức cao.
Tương tự, gan là chốt chặn đầu tiên xử lý các chất hấp thu từ đường tiêu hóa. Các phản ứng gây độc cho gan từ dược chất thường diễn ra âm thầm, có thể thông qua cơ chế phản ứng miễn dịch của cơ thể hoặc tác động gây độc trực tiếp lên tế bào gan [4]. Nhiều trường hợp tổn thương gan hoặc thận không xảy ra ngay lập tức sau vài lần uống, mà là hệ quả của việc tiếp xúc kéo dài (prolonged exposure) làm cạn kiệt khả năng dự trữ sinh lý của cơ quan [4]. Hơn nữa, chức năng thận vốn suy giảm tự nhiên theo quá trình lão hóa, nên bất kỳ tổn thương mạn tính nào tích tụ từ trước cũng sẽ làm tăng nguy cơ suy thận rõ rệt khi về già [5].
Nghiên cứu khoa học nói gì về cây qua lâu và rủi ro nội tạng?
Các dữ liệu nghiên cứu hiện có cung cấp góc nhìn cụ thể về đặc tính sinh học, hóa học của cây qua lâu cũng như mức độ phức tạp trong việc kiểm soát chất lượng loài cây này.
Một nghiên cứu công bố năm 2021 tại Hàn Quốc đã sử dụng dữ liệu hệ gen lục lạp để phân loại tổ hợp loài Trichosanthes kirilowii (họ Bầu bí) và kiểm tra thực tế các sản phẩm thương mại trên thị trường [1]. Nhóm nghiên cứu phát triển 3 chỉ thị phân tử ADN (gồm Tri, TRr và Trtt) để phân biệt 4 đơn vị phân loại: T. kirilowii var. kirilowii, T. kirilowii var. japonica, T. rosthornii và T. rubriflos [1]. Kết quả cho thấy chỉ thị Tri có độ dài lần lượt là 640, 512 và 502 cặp base (bp) ở T. kirilowii var. kirilowii, T. kirilowii var. japonica và T. rosthornii [1]. Chỉ thị TRr có một đoạn mất 32 bp ở T. rosthornii, trong khi chỉ thị Trtt có đoạn mất 88 bp ở T. kirilowii var. japonica [1].
Khi khảo sát 15 sản phẩm dược liệu thô làm từ các bộ phận của cây qua lâu đang bán trên thị trường Hàn Quốc, kết quả cho thấy sự pha trộn rất lớn [1]. Chỉ có 4 sản phẩm thực sự là T. kirilowii var. kirilowii, 9 sản phẩm là T. kirilowii var. japonica, 2 sản phẩm được suy luận là T. rubriflos và không có sản phẩm nào là T. rosthornii [1]. Đáng chú ý, trong nhóm sản phẩm từ rễ và hạt, các nhà khoa học xác định có 4 mẫu rễ và 2 mẫu hạt là T. kirilowii var. japonica; 1 mẫu rễ và 1 mẫu hạt là T. rubriflos; chỉ có 1 mẫu rễ và 3 mẫu hạt thuộc về đúng T. kirilowii var. kirilowii [1]. Giới hạn của nghiên cứu này là chỉ khảo sát trên 15 mẫu thương mại tại Hàn Quốc và tập trung vào định danh di truyền chứ chưa đánh giá độc tính lâm sàng trên người của từng loài bị trộn lẫn [1].
Về thành phần hóa học và cách chế biến, các nghiên cứu hiện có chủ yếu tập trung vào phần hạt qua lâu. Một nghiên cứu năm 2014 đã đánh giá ảnh hưởng của độ chín và phương pháp chế biến lên hàm lượng chất 3,29-dibenzoyl rarounitriol trong hạt Trichosanthes kirilowii bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) [6]. Các mẫu hạt ở các giai đoạn chưa chín, gần chín và chín hoàn toàn được xử lý bằng nhiều cách khác nhau [6]. Kết quả chứng minh hạt chín hoàn toàn có chất lượng tốt hơn hạt chưa chín, và phương pháp chế biến tốt nhất là sấy khô ở nhiệt độ 60 độ C, giúp hàm lượng 3,29-dibenzoyl rarounitriol đạt tới 131,63 microgam/mL [6].
Một nghiên cứu khác năm 2022 khảo sát tác động của thời gian gia nhiệt bằng lò vi sóng ở công suất 700 W (trong 0, 2, 4 và 6 phút) lên thành phần lipid, tính chất hóa học và hoạt tính chống oxy hóa của dầu hạt Trichosanthes kirilowii Maxim [3]. Kết quả cho thấy thời gian quay vi sóng càng lâu thì hiệu suất thu hồi dầu và hoạt tính chống oxy hóa càng tăng [3]. Giá trị IC50 của khả năng bắt gốc tự do DPPH đạt mức cao nhất khi gia nhiệt vi sóng trong 6 phút, bất kể có giữ vỏ hạt hay không (p < 0,05) [3]. Trong khi đó, hàm lượng tocopherol trong dầu vỏ hạt đạt đỉnh ở mức 1930,60 mg/kg khi gia nhiệt vi sóng 2 phút [3]. Nghiên cứu cũng chỉ ra dầu từ vỏ hạt có hàm lượng tocopherol và chỉ số DPPH cao hơn dầu nhân hạt, nhưng dầu nhân hạt lại cho sản lượng dầu và chỉ số axit cao hơn [3].
Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu nhân giống, một nghiên cứu năm 2006 về nuôi cấy mô củ Trichosanthes kirilowii 2 năm tuổi cho thấy có thể tạo chồi cụm từ đỉnh thân và chồi nách trong môi trường MS chứa 2 mg/L BA và 0,5 - 0,05 mg/L NAA [7]. Rễ cây được tạo thành trong môi trường MS kết hợp 0,1 mg/L NAA và 0,2 mg/L IBA, trong khi mô sẹo từ thân và lá được tạo ra với môi trường MS chứa 4 mg/L BA và 0,5 mg/L NAA [7].
Lợi ích và giới hạn của bằng chứng hiện tại
Nhìn vào bức tranh khoa học trên, có thể thấy cây qua lâu là một dược liệu có chứa các hợp chất sinh học rõ rệt, đặc biệt phần hạt giàu chất chống oxy hóa như tocopherol và hợp chất 3,29-dibenzoyl rarounitriol khi được thu hoạch, chế biến đúng nhiệt độ [3]. Kỹ thuật nhân giống hiện đại cũng đã giúp tạo ra cây con quy mô lớn với chi phí thấp từ củ 2 năm tuổi [7].
Tuy nhiên, giới hạn lớn nhất của bằng chứng hiện tại là sự thiếu hụt các thử nghiệm lâm sàng đánh giá độ an toàn trên gan và thận người khi sử dụng dịch chiết rễ qua lâu dài ngày. Các nghiên cứu về hoạt chất và chế biến nói trên được thực hiện trên hạt và trong điều kiện phòng thí nghiệm (HPLC, chiết xuất dầu), không phải trên nước sắc phần rễ dùng làm thức uống hàng ngày [3]. Hơn nữa, ngay cả khi mua rễ qua lâu trên thị trường, nguy cơ mua nhầm sang loài T. kirilowii var. japonica hoặc T. rubriflos là rất cao (chiếm tới 5/6 mẫu rễ trong khảo sát tại Hàn Quốc) [1].
Những hiểu lầm thường gặp về "nước mát thảo dược"
Hiểu lầm phổ biến nhất của người dùng là "thảo dược tự nhiên thì lành tính, uống càng nhiều càng mát gan, giải độc thận". Thực tế y khoa cho thấy bất kỳ hoạt chất nào có tác dụng dược lý khi đi vào cơ thể đều có hai mặt.
Các y văn nghiên cứu về tổn thương nội tạng do thuốc chỉ ra rằng, việc sử dụng kéo dài các chất có hoạt tính sinh học là yếu tố nguy cơ hàng đầu gây độc tích lũy. Chẳng hạn, với nhóm thuốc kháng viêm không steroid (NSAID), dù dùng ở liều điều trị thông thường hay mua không kê đơn, việc sử dụng lâu dài vẫn làm tăng mạnh nguy cơ bệnh thận mạn tính (CKD), tổn thương thận cấp (AKI), hoại tử nhú thận, nhiễm toan ống thận và rối loạn điện giải như hạ natri máu, tăng kali máu [2]. Tại Mỹ, mỗi năm có tới 2,5 triệu người gặp biến chứng thận do nhóm thuốc này, chiếm 15% tổng số ca tổn thương thận cấp [2]. Một nghiên cứu mô bệnh học trên chuột cũng chứng minh hoạt chất meloxicam thuộc nhóm này gây độc cho thận kèm theo nhiễm độc gan và dị sản dạ dày [2].
Tương tự ở gan, các báo cáo y văn từ năm 1961 đến tháng 2/2013 về kháng sinh nitrofurantoin cho thấy việc dùng thuốc kéo dài để dự phòng có thể dẫn đến phổ độc tính gan rộng, từ viêm gan cấp, ứ mật, phản ứng u hạt, viêm gan tự miễn cho đến viêm gan mạn tính tiến triển thành xơ gan hoặc tử vong [4]. Các tác dụng phụ nặng này tuy hiếm gặp nhưng hoàn toàn có thể xảy ra song song với tổn thương phổi cấp và mạn tính hoặc bệnh lý thần kinh ngoại biên [8].
Điều này minh chứng rằng gan và thận không hề "được giải độc" khi phải làm việc quá tải để xử lý các chất ngoại lai mỗi ngày. Ngược lại, sự thay đổi nhiệt độ chế biến hay độ chín của nguyên liệu thảo dược cũng làm biến đổi mạnh nồng độ hóa chất bên trong [6], khiến người tự nấu nước uống tại nhà không thể kiểm soát được liều lượng mình nạp vào.
Ai nên đặc biệt thận trọng?
Do những rủi ro về nhầm lẫn giống loài và gánh nặng chuyển hóa qua nội tạng, một số nhóm đối tượng tuyệt đối không nên tự ý uống nước rễ qua lâu hay các loại rễ cây không rõ nguồn gốc:
- Người cao tuổi: Chức năng thận suy giảm tự nhiên theo tuổi tác [5]. Dữ liệu về độc tính nội tạng cho thấy người trên 65 tuổi có nguy cơ mắc tổn thương thận cấp cao hơn 25% khi tiếp xúc với các tác nhân gây độc cho thận như NSAID [2], đồng thời tuổi cao cũng là yếu tố làm tăng nguy cơ nhiễm độc gan khi dùng thuốc dài ngày [4].
- Người có sẵn bệnh lý gan, thận hoặc đau mạn tính: Những người có chức năng thận suy giảm sẵn rất dễ bị tổn thương gan chồng lấp khi dùng dược chất kéo dài [4]. Người đang mắc các bệnh cơ xương khớp, viêm khớp dạng thấp, thoái hóa khớp đang phải dùng thuốc giảm đau càng nhạy cảm hơn với nguy cơ độc thận [2].
- Phụ nữ và trẻ thanh thiếu niên: Nghiên cứu ghi nhận giới tính nữ là một trong những yếu tố làm tăng nguy cơ phát triển độc tính gan ở một số loại thuốc dùng dài ngày [4]. Ở người trẻ (như trong một nghiên cứu trên nhóm bệnh nhân nội trú có độ tuổi trung bình 15,2 ± 2,3 tuổi gồm 10 nữ và 5 nam), nguy cơ suy thận đáng kể vẫn được ghi nhận khi dùng thuốc giảm đau không kê đơn [2].
- Người từng điều trị bệnh lý ác tính: Những người sống sót sau điều trị ung thư thời thơ ấu hoặc từng phẫu thuật cắt thận, xạ trị thận thường có hiện tượng lão hóa sớm và giảm dự trữ sinh lý thận, làm tăng nguy cơ suy thận nặng khi bước vào tuổi trung niên [5]. Người đang dùng các thuốc điều trị đích mới (như chất ức chế điểm kiểm soát miễn dịch có thể gây viêm thận ống kẽ thận cấp ở 2% người lớn, hoặc chất ức chế VEGF) cũng cần tránh tuyệt đối việc tự nạp thêm thảo dược lạ [5].
Cách áp dụng thực tế để bảo vệ gan, thận
Để giải nhiệt cơ thể một cách an toàn mà không biến gan, thận thành "bãi rác" tích tụ độc chất, bạn nên tuân thủ các nguyên tắc thực tế sau:
Thứ nhất, không dùng rễ qua lâu (thiên hoa phấn) làm thức uống giải khát hàng ngày thay nước lọc. Rễ qua lâu là một vị thuốc, chỉ sử dụng khi có sự thăm khám, kê đơn đúng liều lượng và thời gian của thầy thuốc chuyên khoa.
Thứ hai, thận trọng tối đa với nguồn gốc dược liệu. Như nghiên cứu tại Hàn Quốc đã chỉ ra, tới 5/6 mẫu rễ qua lâu thương mại thực chất là các loài phụ hoặc loài khác bị trộn lẫn [1]. Chỉ mua dược liệu tại các cơ sở y tế uy tín, có kiểm định chất lượng và quy trình sấy chế biến chuẩn xác (ví dụ quy trình sấy chuẩn ở 60 độ C như trong nghiên cứu đối với hạt chín) [6].
Thứ ba, nếu bạn đang sử dụng bất kỳ loại thuốc điều trị hay thảo dược nào kéo dài, việc theo dõi định kỳ lâm sàng và xét nghiệm máu kiểm tra chức năng gan, thận là vô cùng quan trọng [8]. Khi phát hiện dấu hiệu tổn thương nội tạng, việc đầu tiên các bác sĩ thực hiện luôn là ngừng ngay tác nhân nghi ngờ gây độc [4].
Giải nhiệt cơ thể hiệu quả và bền vững nhất vẫn là uống đủ nước lọc, ăn cân bằng nhiều rau xanh, trái cây tươi và duy trì lối sống vận động hợp lý. Đừng vì lời truyền tai về công dụng "làm mát" mà bắt gan và thận phải gánh chịu những hoạt chất không rõ hàm lượng suốt ngày này qua tháng khác. Nếu có bệnh nền hoặc đang dùng thuốc điều trị, hãy luôn hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng bất kỳ loại thảo dược nào.
