Trong văn hóa ẩm thực Việt Nam, gỏi đu đủ xanh hay canh chua nấu thơm (dứa) là những món ăn giải nhiệt quen thuộc. Tuy nhiên, ngay khi có tin vui, nhiều phụ nữ mang thai lập tức nhận được lời khuyên phải tuyệt đối tránh xa hai loại quả này vì nỗi lo sẩy thai hoặc sinh non.
Thực tế, bà bầu cần kiêng hoàn toàn đu đủ xanh và đu đủ ương vì nhựa của chúng chứa các hoạt chất gây co thắt tử cung mạnh [1]. Ngược lại, đu đủ chín hoàn toàn có thể ăn ở mức độ bình thường mà không gây nguy hiểm [1]. Đối với quả thơm, dù dịch chiết của nó có khả năng kích thích cơ tử cung trong phòng thí nghiệm, bằng chứng khoa học về việc ăn thơm gây sẩy thai ở người vẫn còn thiếu hụt, nhưng thai phụ vẫn nên thận trọng [2].
Nguồn gốc nỗi lo từ các enzyme tiêu hóa protein
Nỗi lo ngại về đu đủ và thơm trong thai kỳ bắt nguồn từ hai loại enzyme phân giải protein (protease) tự nhiên có trong chúng là papain và bromelain [3]. Papain là một cysteine protease được lấy từ nhựa mủ của cây đu đủ (Carica papaya L.), trong khi bromelain là một hỗn hợp enzyme cysteine protease chiết xuất từ cây thơm (Ananas comosus L.) [3]. Các enzyme tự nhiên này có khả năng cắt các chuỗi peptide dài thành các mảnh nhỏ hơn [4].
Đối với quả đu đủ, lượng nhựa mủ (latex) tập trung rất cao khi quả còn xanh hoặc mới ương [1]. Khi đu đủ chín hoàn toàn, hàm lượng nhựa này giảm đi đáng kể và tính chất gây bất lợi cho thai kỳ cũng giảm theo độ chín của quả [5].
Đối với quả thơm, bromelain hiện diện ở cả phần thân cây và phần thịt quả [6]. Tuy nhiên, thành phần có sự khác biệt rõ rệt: các chế phẩm thương mại hoặc thực phẩm bổ sung chủ yếu chứa bromelain từ thân cây, trong khi phần thịt quả ăn được có hoạt tính enzyme phản ánh tỷ lệ bromelain quả lớn hơn ananain và lớn hơn hoặc xấp xỉ bromelain thân [6].
Cơ chế tác động lên cơ trơn tử cung
Các nhà khoa học đã tìm hiểu cách thức mà các thành phần trong đu đủ và thơm tác động lên tử cung. Ở đu đủ xanh, thủ phạm chính không chỉ có mình enzyme papain tinh khiết mà là toàn bộ hỗn hợp nhựa đu đủ thô [7]. Một nghiên cứu năm 2000 chỉ ra rằng papain tinh khiết khi thử nghiệm riêng lẻ chỉ gây ra các cơn co tử cung không kéo dài, thậm chí ở nồng độ cao, chính hoạt tính phân giải của papain lại làm ảnh hưởng đến các protein thụ thể trên bề mặt tế bào [7].
Ngược lại, nhựa đu đủ thô là sự kết hợp của các enzyme, alkaloid và các chất khác, tạo ra các cơn co thắt tử cung duy trì liên tục [7]. Nhựa đu đủ tác động chủ yếu thông qua nhóm thụ thể alpha-adrenergic trên cơ tử cung và một phần qua thụ thể serotonin (5-HT) [7]. Đáng chú ý, mức độ nhạy cảm của tử cung với nhựa đu đủ tăng cao nhất vào giai đoạn cuối của thai kỳ, thời điểm nồng độ hormone estrogen trong huyết tương đạt đỉnh [7].
Với quả thơm, cơ chế kích thích tử cung của dịch chiết lại đi theo một con đường khác. Nghiên cứu năm 2016 cho thấy phân đoạn nước của dịch chiết thịt quả thơm kích thích cơ tử cung thông qua con đường serotonin (5-HT) hoặc các hợp chất tương tự serotonin, đồng thời phụ thuộc vào kênh canxi vì tác dụng này bị chặn bởi thuốc chẹn kênh canxi verapamil [2]. Tác động co bóp từ dịch chiết thơm không bị ảnh hưởng bởi các thuốc ức chế prostaglandin như indomethacin hay thuốc đối kháng thụ thể oxytocin như atosiban [2].
Nghiên cứu khoa học nói gì về đu đủ xanh và đu đủ chín?
Từ năm 1978, một nghiên cứu trên chuột bạch Wistar trưởng thành đã khảo sát tác động của việc ăn các phần khác nhau của quả đu đủ một cách tự nhiên, không ép ăn [5]. Kết quả cho thấy đu đủ xanh làm gián đoạn chu kỳ động dục và gây sẩy thai ở chuột mang thai [5]. Khi quả đu đủ để lâu hoặc chín, đặc tính gây sẩy thai giảm xuống [5]. Việc bổ sung hormone progesterone từ bên ngoài giúp chống lại một phần tác hại này, và những bào thai sống sót không có dị tật rõ rệt nào [5].
Đến năm 2000, một nghiên cứu trong ống nghiệm (in vitro) đã thử nghiệm chiết xuất nhựa đu đủ (PLE) trên mô tử cung tách rời của chuột ở các giai đoạn chu kỳ động dục và giai đoạn mang thai khác nhau [7]. Chiết xuất nhựa đu đủ làm tăng đáng kể tần số và biên độ co thắt theo liều lượng [7]. Khi xử lý trước mô tử cung bằng phenoxybenzamine (chất ức chế thụ thể alpha-adrenergic), tác dụng gây co của nhựa đu đủ bị chặn lại, còn methysergide (chất chẹn thụ thể 5-HT) chặn được một phần phản ứng kích thích [7].
Bằng chứng rõ ràng nhất phân biệt giữa đu đủ chín và nhựa đu đủ xanh được công bố vào năm 2002 [1]. Nhóm nghiên cứu cho 4 nhóm chuột Sprague-Dawley mang thai ở các giai đoạn khác nhau (ngày 1-5, 6-11, 12-17 và 1-20 của thai kỳ) uống tự do hỗn hợp đu đủ chín xay pha nước với nồng độ 500 ml/lít nước, so sánh với nhóm đối chứng chỉ uống nước lọc [1]. Dù nhóm chuột uống nước đu đủ chín tiêu thụ lượng chất lỏng trung bình mỗi ngày nhiều hơn đáng kể so với nhóm uống nước lọc (64 ml so với 40,3 ml), không có sự khác biệt nào về số lượng vị trí làm tổ của phôi hay số lượng thai sống sót, cũng như không có dấu hiệu độc tính nào ở chuột mẹ và chuột con [1].
Song song đó, trong thí nghiệm trên mô cơ trơn tử cung chuột tách rời, nước ép đu đủ chín ở liều 0,1-0,8 ml không gây ra bất kỳ tác động co thắt đáng kể nào [1]. Trái lại, nhựa đu đủ thô ở nồng độ 0,1-3,2 mg/ml gây co thắt mạnh tương tự như hormone oxytocin (1-64 mU/ml) và prostaglandin F2 alpha (0,028-1,81 micromol) [1]. Cụ thể, phản ứng co thắt của cơ tử cung chuột với 0,2 mg/ml nhựa đu đủ thô tương đương với 0,23 micromol prostaglandin F2 alpha và 32 mU/ml oxytocin [1]. Ở tử cung chuột mang thai ngày thứ 18-19, nhựa đu đủ thô tạo ra các cơn co cứng liên tục (tetanic spasms) [1].
Bằng chứng thực nghiệm về quả thơm và enzyme bromelain
Trong y học dân gian tại bang Kerala (Ấn Độ), quả thơm chín từng được dùng đường uống để gây sẩy thai, trong khi nước ép thơm xanh được dùng với mục đích tương tự tại Bangladesh [2]. Tuy nhiên, trước năm 2016, các bằng chứng khoa học kiểm chứng khả năng gây co bóp tử cung của thơm vẫn rất thiếu hụt [2].
Một nghiên cứu công bố năm 2016 đã chiết xuất phần thịt quả thơm ăn được ở các độ chín khác nhau bằng ethanol và phân tách thành các phân đoạn để thử nghiệm trực tiếp trên các dải cơ tử cung tách rời từ chuột SD mang thai và cơ tử cung của phụ nữ mang thai [2]. Các dải cơ được đặt trong bể mô ở nhiệt độ 37 độ C và tiếp xúc tích lũy với các phân đoạn chiết xuất ở nồng độ từ 0,1 đến 10 mg/ml [2]. Kết quả xác nhận phân đoạn nước (F4) có đặc tính kích thích co bóp tử cung trên cả mẫu mô chuột và người [2]. Khi dùng chất đối kháng thụ thể serotonin là ketanserin (nồng độ 10 micromol), phản ứng co thắt tối đa do phân đoạn F4 và do serotonin gây ra đã giảm lần lượt 74,3% và 92,1% [2].
Ngoài tác động lên cơ tử cung ở dạng dịch chiết cô đặc, cả bromelain và papain còn được nghiên cứu về tác động lên hệ tiêu hóa. Một nghiên cứu năm 2022 trên chuột C57BL/6 khỏe mạnh dùng liều 1 mg bromelain hoặc papain mỗi con/ngày trong 3 ngày liên tiếp cho thấy hai enzyme này làm tăng trypsin tuyến tụy, giảm vi khuẩn Proteobacteria và tăng vi khuẩn có lợi Akkermansia muciniphila trong đường ruột [3]. Tuy nhiên, khi thử nghiệm trên mô hình mô ruột người tái tạo 3D (EpiIntestinal SMI-100) với các liều 0,1 mg/ml, 1 mg/ml và 10 mg/ml, các nhà khoa học nhận thấy ở liều cao nhất, các enzyme này làm gián đoạn tính toàn vẹn của biểu mô và làm tăng tính thấm qua khe gian bào theo cách phụ thuộc vào liều lượng [3].
Lợi ích và giới hạn của các bằng chứng hiện tại
Các nghiên cứu hiện có mang lại cái nhìn phân tách rõ ràng giữa từng bộ phận, độ chín và dạng chế phẩm của đu đủ cũng như quả thơm. Điểm mạnh của nghiên cứu năm 2016 về quả thơm là đã thử nghiệm trực tiếp trên mẫu cơ tử cung của phụ nữ mang thai, giúp xác định chính xác cơ chế sinh học tại mô đích của người [2]. Nghiên cứu năm 2002 về đu đủ cũng kết hợp cả hai phương pháp: cho động vật sống ăn thực tế (in vivo) và thử nghiệm trên mô tách rời (in vitro), giúp đối chiếu sự khác biệt giữa việc tiêu hóa thực phẩm và việc cho mô tiếp xúc trực tiếp với hóa chất [1].
Tuy nhiên, độc giả cần lưu ý những giới hạn quan trọng của các bằng chứng này. Hầu hết dữ liệu về sẩy thai khi ăn đu đủ xanh được thực hiện trên mô hình chuột [1]. Đối với các thí nghiệm gây co thắt tử cung mạnh của nhựa đu đủ hay dịch chiết quả thơm, các nhà khoa học đã đặt trực tiếp chiết xuất cô đặc lên dải cơ tử cung đã tách rời trong bể dung dịch [2].
Trong đời sống thực tế, khi một người ăn quả thơm hoặc đu đủ qua đường miệng, thức ăn phải đi qua dạ dày và ruột non trước khi vào máu. Nghiên cứu năm 2005 về độ ổn định của bromelain cho thấy các dung dịch bromelain đậm đặc (trên 50 mg/ml) mới có khả năng chống lại sự bất hoạt tự nhiên và ít bị ảnh hưởng bởi enzyme tiêu hóa trypsin, trong khi các dung dịch pha loãng dễ bị mất hoạt tính phân giải protein hơn [6]. Do đó, tác động của một lát thơm tươi ăn vào dạ dày sẽ không hoàn toàn giống với việc nhỏ trực tiếp dịch chiết cô đặc lên thớ cơ tử cung trong phòng thí nghiệm.
Những hiểu lầm thường gặp trong dân gian
Hiểu lầm phổ biến nhất là đánh đồng đu đủ chín với đu đủ xanh và cấm bà bầu ăn mọi thứ liên quan đến đu đủ. Bằng chứng thực nghiệm cho thấy nước ép đu đủ chín không gây co thắt cơ tử cung và việc tiêu thụ đu đủ chín ở mức độ bình thường trong suốt các giai đoạn thai kỳ không gây hại cho sự làm tổ hay sự sống còn của bào thai [1].
Hiểu lầm thứ hai là cho rằng chỉ có quả xanh mới có tác động sinh học, còn quả chín hoàn toàn vô hại ở mọi liều lượng đối với tất cả các loại trái cây. Với quả đu đủ, đúng là tính chất gây co tử cung tập trung ở nhựa quả xanh và giảm đi khi chín [5]. Nhưng với quả thơm, nghiên cứu năm 2016 đã khảo sát thịt quả ở nhiều độ chín khác nhau và ghi nhận cả thơm chín lẫn thơm xanh đều được nhắc đến trong các báo cáo dân gian, đồng thời dịch chiết từ phần thịt quả ăn được vẫn chứa hoạt chất tương tự serotonin gây co cơ tử cung trong ống nghiệm [2].
Hiểu lầm thứ ba là gộp chung việc ăn trái cây tươi với việc uống các viên thực phẩm chức năng chiết xuất enzyme. Các chế phẩm thương mại chứa bromelain chủ yếu được chiết xuất từ thân cây thơm với độ ổn định cao hơn nhiều so với enzyme tự nhiên nằm trong thịt quả [6]. Việc dùng liều cao enzyme cô đặc có thể làm tăng tính thấm niêm mạc ruột và mang lại rủi ro khác biệt hoàn toàn so với ăn vài miếng trái cây tráng miệng [3].
Ai nên đặc biệt thận trọng?
Phụ nữ đang mang thai ở tất cả các tam cá nguyệt cần tránh ăn đu đủ xanh và đu đủ ương (nửa chín nửa sống) vì hàm lượng nhựa mủ cao có thể kích thích các cơn co thắt tử cung đột ngột giống như tác dụng của oxytocin và prostaglandin [1]. Đặc biệt, phụ nữ mang thai ở giai đoạn cuối thai kỳ càng phải cẩn trọng với nhựa đu đủ xanh, bởi nghiên cứu cho thấy tử cung ở giai đoạn cuối thai kỳ có phản ứng co thắt mạnh nhất và dễ rơi vào trạng thái co cứng liên tục khi tiếp xúc với nhựa đu đủ [1].
Những phụ nữ đang mong con hoặc đang trong giai đoạn chuẩn bị mang thai cũng nên hạn chế ăn nhiều đu đủ xanh, do dữ liệu trên động vật ghi nhận đu đủ xanh có thể làm gián đoạn chu kỳ sinh lý và ảnh hưởng đến khả năng làm tổ [5]. Bên cạnh đó, thai phụ có tiền sử dọa sẩy thai, sinh non, hoặc có cơn gò tử cung sớm cần tham khảo ý kiến bác sĩ sản khoa trước khi sử dụng bất kỳ thực phẩm hay chế phẩm nào có chứa chiết xuất từ thơm và đu đủ. Tuyệt đối không tự ý dùng các viên uống bổ sung enzyme bromelain hoặc papain liều cao trong thai kỳ khi chưa có chỉ định của bác sĩ [3].
Cách áp dụng thực tế và an toàn trong bữa ăn hàng ngày
Để đảm bảo an toàn trong thai kỳ mà không phải kiêng khem cực đoan, bà bầu nên loại bỏ hoàn toàn các món chế biến từ đu đủ xanh hoặc đu đủ ương như nộm, gỏi đu đủ, canh đu đủ xanh hầm xương hay đu đủ muối chua [1]. Khi muốn ăn đu đủ, hãy chọn những quả đã chín hoàn toàn, vỏ vàng đều, thịt quả mềm và không còn tiết ra dịch nhựa màu trắng đục ở phần cuống hay vỏ [1]. Bà bầu cần gọt sạch vỏ, bỏ hết hạt và chỉ ăn phần thịt quả chín đỏ với lượng vừa phải trong bữa phụ [1].
Đối với quả thơm, dù chứa các enzyme hỗ trợ tiêu hóa và kháng viêm tự nhiên, bà bầu không nên ăn với số lượng lớn cùng một lúc hoặc uống nước ép thơm đặc, đặc biệt là thơm còn xanh [2]. Khi chế biến, nên gọt sạch vỏ, cắt bỏ hoàn toàn phần lõi cứng ở giữa (nơi gần với cấu trúc thân chứa nhiều enzyme bền vững hơn) và có thể nấu chín trong các món canh, món xào để làm giảm hoạt tính của các enzyme tự nhiên [6].
Tóm lại, nỗi sợ đu đủ và thơm trong thai kỳ có cơ sở khoa học từ tác động của nhựa đu đủ xanh và một số hợp chất kích thích cơ tử cung, nhưng không có nghĩa bà bầu phải kiêng tuyệt đối mọi loại trái cây này [2]. Việc kiêng hoàn toàn đu đủ xanh, ăn đu đủ chín đúng cách và thưởng thức thơm ở lượng nhỏ hợp lý sẽ giúp thai phụ vừa có một thai kỳ an toàn, vừa tận hưởng được nguồn dinh dưỡng đa dạng [1]. Nếu có bất kỳ dấu hiệu đau bụng hay co thắt bất thường nào sau khi ăn uống, thai phụ cần đến ngay cơ sở y tế để được bác sĩ thăm khám kịp thời.
