Dầu mè và lời đồn thổi về khả năng hạ huyết áp
Trong gian bếp của nhiều gia đình Việt Nam, dầu mè (dầu vừng) là gia vị quen thuộc mang lại hương vị thơm ngậy cho các món ăn. Gần đây, trên các hội nhóm chia sẻ kinh nghiệm chăm sóc sức khỏe, nhiều thông tin lan truyền cho rằng việc uống dầu mè hàng ngày có thể làm tan biến chứng tăng huyết áp, giúp người bệnh bỏ thuốc tây. Những lời đồn này khiến không ít người mắc bệnh tim mạch kỳ vọng quá mức vào một loại thực phẩm thông thường.
Thực tế, dầu mè có hạ được huyết áp hay không? Câu trả lời ngắn gọn là chưa có đủ bằng chứng lâm sàng trên người khẳng định dầu mè chữa khỏi tăng huyết áp; các dữ liệu hiện có về tác dụng giãn mạch của hợp chất sesamin trong dầu mè chỉ mới dừng lại ở nghiên cứu tiền lâm sàng trên động vật. Do đó, dầu mè chỉ đóng vai trò là một chất béo thực vật hỗ trợ dinh dưỡng, tuyệt đối không thay thế được thuốc hạ áp do bác sĩ chỉ định.
Hiểu đúng bản chất của các hoạt chất tự nhiên giúp người bệnh chủ động chăm sóc sức khỏe mà không rơi vào cái bẫy chủ quan dẫn đến các tai biến tim mạch nguy hiểm.
Cơ chế tác động của hợp chất sesamin: Giảm căng thẳng oxy hóa và bảo vệ mạch
Sesamin là một hợp chất thuộc nhóm lignan đặc trưng có nhiều trong hạt vừng và dầu mè. Trong các nghiên cứu sinh học, sesamin thu hút sự quan tâm nhờ đặc tính chống oxy hóa mạnh mẽ và khả năng can thiệp vào trương lực thành mạch.
Khi huyết áp tăng cao kéo dài, thành mạch máu chịu áp lực lớn và dễ sản sinh ra các gốc tự do có hại, điển hình là superoxide ($O_2^-$). Hoạt chất sesamin được ghi nhận có khả năng ức chế quá trình sản sinh superoxide tại động mạch chủ [1]. Sự tích tụ quá mức của gốc tự do oxy hóa thường phá hủy nitric oxide (NO) – một phân tử tự nhiên quan trọng giữ nhiệm vụ báo hiệu cho các tế bào cơ trơn mạch máu thư giãn, từ đó làm hỏng chức năng giãn mạch phụ thuộc nội mô [2].
Bằng việc giảm stress oxy hóa thành mạch, sesamin giúp khôi phục một phần khả năng đáp ứng giãn mạch phụ thuộc vào con đường nitric oxide [3], [2]. Đồng thời, sesamin còn can thiệp vào phản ứng co thắt bất thường do các chất kích thích mạch máu gây ra, hỗ trợ đưa phản ứng co thắt trở về mức bình thường [2]. Bên cạnh đó, hợp chất này còn hỗ trợ hạn chế hiện tượng dày thành mạch và phì đại tâm thất do huyết áp tăng cao gây nên [4], [5].
Nghiên cứu trên mô hình chuột tổn thương thận và quá tải muối
Bằng chứng thực nghiệm đầu tiên về tác dụng kiểm soát huyết áp của sesamin được thực hiện trên chuột bị thắt động mạch thận một bên (mô hình 2K,1C) công bố năm 1995 [4]. Nghiên cứu chia các cá thể chuột thành nhóm phẫu thuật giả, nhóm chuột bệnh ăn chế độ bình thường (đối chứng) và nhóm chuột bệnh ăn chế độ chứa 1% sesamin (w/w) trong 4 tuần [4]. Kết quả ghi nhận, huyết áp tâm thu sau 4 tuần ở nhóm phẫu thuật giả là 123,60 +/- 4,01 mmHg, nhóm đối chứng tăng vọt lên 187,43 +/- 5,69 mmHg, trong khi nhóm dùng sesamin được hạ rõ rệt xuống 145,57 +/- 6,78 mmHg [4]. Tỷ lệ trọng lượng tâm thất trái cộng vách liên thất trên trọng lượng cơ thể tăng cao ở nhóm đối chứng cũng giảm đáng kể khi bổ sung sesamin [4]. Độ dày thành mạch và tỷ lệ giữa thành và lòng động mạch chủ ngực có xu hướng cải thiện ở nhóm sesamin nhưng chưa đạt ý nghĩa thống kê [4].
Cùng năm 1995, một thử nghiệm khác khảo sát tác động của sesamin trên mô hình chuột tăng huyết áp do cắt một bên thận kết hợp tiêm deoxycorticosterone acetate và cho ăn muối (DOCA-salt) kéo dài 5 tuần [5]. Kết quả sau 5 tuần cho thấy, huyết áp tâm thu nhóm phẫu thuật giả là 130,6 +/- 1,9 mmHg, nhóm đối chứng tăng lên 198,1 +/- 7,3 mmHg, còn nhóm ăn chế độ chứa sesamin được ức chế rõ rệt ở mức 152,5 +/- 8,4 mmHg [5]. Bổ sung sesamin ức chế đáng kể sự gia tăng trọng lượng tâm thất trái và vách liên thất [5]. Đáng chú ý, sesamin cải thiện rõ rệt tình trạng phì đại mạch máu ở cả động mạch chủ và động mạch mạc treo tràng trên, giảm độ dày thành và diện tích thành mạch so với nhóm đối chứng [5].
Năm 2002, nghiên cứu trên chuột DOCA-salt kéo dài 5 tuần tập trung đo lường lượng superoxide ($O_2^-$) tại động mạch chủ bằng xét nghiệm phát quang hóa học lucigenin [1]. Tín hiệu phát quang đo được ở nhóm chuột DOCA-salt ăn sesamin giảm đáng kể so với nhóm ăn khẩu phần chuẩn [1]. Nghiên cứu cũng chỉ ra mối tương quan thuận giữa huyết áp tâm thu và lượng $O_2^-$ sinh ra tại thành mạch [1].
Năm 2003, các nhà khoa học tiếp tục đánh giá chức năng nội mô trên mô hình chuột DOCA-salt sau 5 tuần theo dõi [3]. Khẩu phần chứa sesamin đã ức chế sự tăng huyết áp và giảm mạnh việc sản sinh gốc tự do $O_2^-$ tại động mạch chủ tương đương hoạt chất tempol, trong khi liệu pháp phối hợp 3 loại thuốc hạ áp (reserpine, hydralazine, hydrochlorothiazide) tuy hạ được áp lực máu nhưng không giảm sinh superoxide [3]. Khả năng giãn mạch qua trung gian nội mô khi kích thích bằng acetylcholine bị suy giảm nặng ở chuột DOCA-salt được cải thiện đáng kể nhờ chế độ ăn chứa sesamin hoặc dùng thuốc hạ áp phối hợp [3]. Huyết áp tâm thu có mối tương quan chặt chẽ với cả mức sản sinh superoxide và mức độ phục hồi giãn mạch nội mô [3].
Năm 2000, một nghiên cứu trên các vòng động mạch chủ cô lập từ chuột DOCA-salt cho thấy sau 5 tuần điều trị, huyết áp tâm thu nhóm đối chứng đạt 195,0 +/- 2,8 mmHg trong khi nhóm dùng sesamin giữ ở mức 167,1 +/- 8,6 mmHg (nhóm chứng phẫu thuật giả là 131,2 +/- 2,4 mmHg) [2]. Phản ứng giãn mạch phụ thuộc nội mô do acetylcholine ở nhóm chuột bệnh bị suy giảm sâu (đáp ứng tối đa 64,8 +/- 3,4% so với 93,3 +/- 2,7% ở nhóm bình thường) đã được sesamin cải thiện một phần nhưng có ý nghĩa [2]. Cơ chế này liên quan trực tiếp đến nitric oxide nội mô, và phản ứng co mạch quá mức do phenylephrine gây ra gần như được bình thường hóa hoàn toàn nhờ sesamin [2].
Bằng chứng trên mô hình chuột đột quỵ bẩm sinh
Bên cạnh mô hình tổn thương thận nhân tạo, tác dụng của sesamin còn được thử nghiệm trên dòng chuột tăng huyết áp tự phát có xu hướng đột quỵ (SHRSP). Nghiên cứu năm 1998 chia chuột 6 tuần tuổi thành nhóm nạp muối (uống nước chứa 1% NaCl) và nhóm không nạp muối, theo dõi huyết áp hàng tuần đến 26 tuần [6]. Kết quả cho thấy, ở nhóm chuột nạp muối, sesamin ức chế rõ rệt sự tiến triển của huyết áp cao từ tuần thứ 9 đến tuần thứ 26 (ghi nhận ở tuần thứ 17 là 180 +/- 4 mmHg ở nhóm sesamin so với 215 +/- 4 mmHg ở nhóm đối chứng) [6].
Ở nhóm nạp muối này, tỷ lệ trọng lượng tâm thất trái cộng vách liên thất trên cơ thể giảm nhẹ nhưng có ý nghĩa; độ dày và diện tích thành động mạch chủ lẫn động mạch mạc treo tràng trên đều giảm [6]. Các tổn thương mô học ở thận như dày lớp nội mạc và thoái hóa dạng tơ huyết thành động mạch xuất hiện nhiều ở nhóm chuột đối chứng cũng được giảm bớt ở nhóm ăn sesamin [6]. Trái lại, ở nhóm chuột không nạp muối, sesamin chỉ thể hiện xu hướng ức chế huyết áp nhẹ và không có ý nghĩa thống kê [6]. Điều này cho thấy sesamin có tác dụng rõ rệt hơn trong việc dự phòng tiến triển xấu ở trạng thái huyết áp ác tính do quá tải muối [6].
Hai thử nghiệm công bố năm 2001 và 2004 tiếp tục khảo sát chuột SHRSP từ 5 đến 10 tuần tuổi chia làm 4 nhóm: nhóm đối chứng, nhóm dùng vitamin E (1.000 mg alpha-tocopherol/kg thức ăn), nhóm dùng sesamin (1.000 mg/kg thức ăn) và nhóm dùng kết hợp cả hai [7], [8]. Ở nhóm đối chứng, huyết áp tâm thu và lượng chất chỉ thị tổn thương oxy hóa 8-hydroxy-2'-deoxyguanosine (8-OHdG) trong nước tiểu tăng dần theo tuổi [7], [8]. Cả sesamin, vitamin E hay sự kết hợp của chúng đều ức chế đáng kể đà tăng huyết áp và nồng độ 8-OHdG [7], [8].
Khi đánh giá xu hướng hình thành huyết khối gây tắc nghẽn tiểu động mạch não bằng kỹ thuật laser heli-neon qua cửa sổ xương sọ, tại thời điểm 10 tuần tuổi, số xung laser cần thiết để tạo cục huyết khối làm tắc mạch ở nhóm đối chứng thấp hơn đáng kể so với các nhóm dùng hoạt chất [7], [8]. Điều này chứng minh việc tiêu thụ lâu dài sesamin hoặc vitamin E đã góp phần làm giảm tình trạng tăng huyết áp, giảm căng thẳng oxy hóa và hạn chế xu hướng hình thành cục máu đông [7], [8].
Lợi ích thực tế và giới hạn của các bằng chứng khoa học
Nhìn nhận một cách khách quan, các nghiên cứu thực nghiệm đã làm sáng tỏ cơ chế sinh học thú vị của sesamin: hợp chất này vừa có khả năng chống oxy hóa tại chỗ trên thành mạch, vừa hỗ trợ cải thiện sự giãn nở tự nhiên của mạch máu và hạn chế phì đại cơ tim [4], [5], [1], [3], [2]. Thậm chí sesamin còn thể hiện tiềm năng bảo vệ chống lại huyết khối mạch máu não ở động vật [7], [8].
Tuy nhiên, ranh giới giữa phòng thí nghiệm và cơ thể người là một khoảng cách rất lớn. Toàn bộ các dữ liệu khoa học kể trên đều được thực hiện trên động vật thí nghiệm (chuột cống trắng với các mô hình nhân tạo như thắt mạch thận, DOCA-salt hoặc giống chuột SHRSP) [4], [5], [6], [7], [8]. Chưa có các thử nghiệm lâm sàng đối chứng quy mô lớn ở người nhằm xác định hiệu quả, sự an toàn cũng như chuyển hóa của sesamin tự nhiên từ dầu mè qua đường tiêu hóa người.
Hơn nữa, nồng độ sesamin tinh khiết được nạp vào thức ăn của động vật trong các thử nghiệm (chẳng hạn liều 1.000 mg sesamin/kg thức ăn hoặc thức ăn chứa 1% sesamin) là rất cao so với hàm lượng sesamin thực tế mà một người có thể hấp thụ qua vài giọt hay một thìa dầu mè dùng trong bữa ăn thường ngày [4], [7], [8]. Do đó, việc suy diễn kết quả trên chuột thành công dụng trị bệnh ở người là thiếu căn cứ khoa học.
Những hiểu lầm thường gặp khi dùng dầu mè trị huyết áp
Hiểu lầm nguy hiểm nhất là việc tự ý ngừng hoặc giảm liều thuốc điều trị tăng huyết áp để chuyển sang uống dầu mè. Tăng huyết áp ở người là bệnh lý mạn tính phức tạp, diễn tiến âm thầm và gây ra nhiều biến chứng đe dọa tính mạng như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim nếu áp lực máu không được kiểm soát chặt chẽ bằng phác đồ y khoa chuẩn mực.
Nhiều người lầm tưởng rằng dầu mè hoàn toàn lành tính nên uống càng nhiều càng tốt. Cần lưu ý, dầu mè về bản chất là chất béo nguyên chất, chứa mật độ năng lượng rất cao (khoảng 9 kcal mỗi gram). Uống dầu mè vô độ không những không hạ được huyết áp mà còn gây tăng cân mất kiểm soát, làm nặng thêm tình trạng béo phì và rối loạn mỡ máu – những yếu tố nguy cơ hàng đầu khiến huyết áp tăng cao hơn.
Thêm vào đó, việc chế biến dầu mè ở nhiệt độ quá cao như chiên xào lâu có thể làm biến tính các chất béo chưa bão hòa, làm mất đi các hoạt chất sinh học quý giá và sinh ra các hợp chất oxy hóa có hại cho sức khỏe.
Ai nên thận trọng khi sử dụng dầu mè?
Mặc dù dầu mè là thực phẩm thông dụng, một số đối tượng cần đặc biệt lưu ý và kiểm soát liều lượng trong chế độ ăn hàng ngày:
- Người đang mắc bệnh tăng huyết áp: Cần nhớ rằng sesamin chỉ mới được nghiên cứu trên động vật [4], [5], [6]. Bệnh nhân tuyệt đối không dùng dầu mè thay thế thuốc điều trị và cần thảo luận với bác sĩ chuyên khoa về chế độ dinh dưỡng tổng thể.
- Người thừa cân, béo phì hoặc đang cần giảm cân: Dầu mè cung cấp lượng calo dồi dào, cần tính toán kỹ hàm lượng chất béo nạp vào hàng ngày để tránh vượt quá nhu cầu năng lượng.
- Người mắc hội chứng ruột kích thích, rối loạn tiêu hóa hoặc viêm tụy: Sử dụng lượng lớn chất béo nói chung và dầu mè nói riêng trong một bữa ăn có thể gây ra hiện tượng đầy bụng, khó tiêu hoặc tiêu chảy.
- Người có cơ địa dị ứng vừng mè: Nhóm đối tượng này cần loại bỏ hoàn toàn dầu mè và hạt vừng khỏi thực đơn để tránh các phản ứng quá mẫn nguy hiểm.
- Phụ nữ mang thai, cho con bú, trẻ nhỏ và người có bệnh lý nền khác: Hiện chưa có dữ liệu lâm sàng chuyên biệt về tác động điều trị huyết áp của sesamin trên các đối tượng này; do đó chỉ nên dùng dầu mè ở mức độ gia vị thông thường, không lạm dụng dưới dạng thực phẩm chức năng hỗ trợ điều trị khi chưa có ý kiến của bác sĩ.
Cách dùng dầu mè an toàn và khoa học trong đời sống
Để tận dụng các giá trị dinh dưỡng của dầu mè mà không gây gánh nặng cho hệ tim mạch và cân nặng, người nội trợ có thể áp dụng các nguyên tắc chế biến sau:
- Dùng với lượng vừa phải: Chỉ nên sử dụng dầu mè như một loại gia vị tạo mùi thơm, thêm vào món ăn một lượng nhỏ vừa phải mỗi ngày trong khuôn khổ tổng lượng chất béo khuyến nghị của khẩu phần.
- Thời điểm nêm nếm hợp lý: Không nên dùng dầu mè để chiên rán ở nhiệt độ cao trong thời gian dài. Thời điểm tốt nhất là thêm dầu mè vào các món canh, súp, món xào sau khi đã tắt bếp, hoặc dùng trực tiếp để trộn các món rau xà lách, nộm. Cách này giúp giữ lại tối đa hương vị tự nhiên và hạn chế sự thoái hóa của các hợp chất nhạy cảm với nhiệt độ.
- Kết hợp với lối sống lành mạnh: Đối với người có huyết áp mấp mé ngưỡng cao, việc duy trì chế độ ăn giảm muối, hạn chế thực phẩm chế biến sẵn, tăng cường rau xanh, tập thể dục đều đặn và kiểm soát căng thẳng là nền tảng cốt lõi được khoa học chứng minh giúp ổn định huyết áp.
Tóm lại, dầu mè là một loại dầu thực vật thơm ngon và chứa các hợp chất chống oxy hóa tự nhiên như sesamin đã được chứng minh có tác dụng bảo vệ mạch trên động vật [4], [1]. Tuy nhiên, người bệnh tăng huyết áp cần nhìn nhận sản phẩm này đúng với vai trò dinh dưỡng bổ trợ, không coi đây là bài thuốc chữa bệnh và tuyệt đối tuân thủ hướng dẫn điều trị của bác sĩ chuyên khoa.







