Yoga vốn được xem là bộ môn giúp cải thiện sức khỏe và hỗ trợ phòng ngừa bệnh giãn tĩnh mạch [1]. Tuy nhiên, nhiều người có thói quen giữ các tư thế đứng thăng bằng bất động thật lâu để rèn sức bền mà không biết chân mình đang chịu áp lực lớn. Liệu người bị suy giãn tĩnh mạch chi dưới có nên duy trì các thế đứng tĩnh này trong thời gian dài?

Câu trả lời ngắn gọn là không nên giữ các tư thế đứng bất động quá lâu, dù tập yoga và thể dục đều đặn nhìn chung có lợi cho việc phòng ngừa bệnh [3, 8]. Khi đứng yên và gồng cơ liên tục, áp lực trong lòng tĩnh mạch chân tăng vọt và làm mỏi cơ, khiến máu ứ trệ nhiều hơn [3, 7]. Người bệnh cần ưu tiên các động tác có sự chuyển động nhịp nhàng như đi bộ, kéo giãn hoặc tư thế nâng cao chân thay vì đứng tĩnh chịu lực [2].

Áp lực tĩnh mạch thay đổi thế nào khi giữ thế đứng?

Giãn tĩnh mạch là tình trạng các tĩnh mạch ở chi dưới bị giãn rộng, xoắn vặn và ứ máu bất thường do tăng áp lực tĩnh mạch ngoại vi kéo dài và suy van tĩnh mạch [3, 6]. Suy tĩnh mạch mạn tính ở chi dưới — nguyên nhân chính gây giãn tĩnh mạch — ở mức độ nhẹ ảnh hưởng tới 80% dân số toàn cầu [2]. Khi một người chuyển từ tư thế nằm sang tư thế đứng thẳng, trọng lực lập tức tác động mạnh lên cột máu ở hai chân [2, 7].

Ở cấu trúc giải phẫu bình thường, phần lớn con người không có van tĩnh mạch trên đoạn từ tim đến giữa tĩnh mạch chậu ngoài, dẫn đến áp lực thủy tĩnh dồn rất cao lên các van đầu tiên ở vùng bẹn [3]. Các nghiên cứu trên động vật thí nghiệm chỉ ra rằng áp lực tĩnh mạch tăng cao sẽ dẫn đến sự biến mất của các lá van tĩnh mạch [3]. Điều này lý giải tần suất trào ngược tĩnh mạch khá cao ở người trẻ là 13% và tăng lên 35% ở người cao tuổi [3].

Khi vào một tư thế đứng thăng bằng trong yoga, cơ thể rơi vào trạng thái tư thế tĩnh kết hợp với sự co cơ liên tục làm cạn kiệt sức cơ [2]. Khác với khi đi bộ có nhịp co giãn giúp giảm áp lực tĩnh mạch xuống khoảng 20 mm nước, tư thế ngồi tạo áp lực khoảng 60-80 mm nước và tư thế đứng đẩy con số này lên mức cao hơn, khoảng 100 mm nước [3]. Nếu van tĩnh mạch đã suy yếu, việc đứng bất động kèm gồng cơ sẽ cản trở máu bơm ngược về tim, gây ứ máu và làm nặng thêm các triệu chứng mỏi, đau và sưng chân [3, 6].

Các nghiên cứu ghi nhận gì về áp lực máu và tư thế đứng?

Một nghiên cứu công bố năm 2008 đã tiến hành đo trực tiếp áp lực và nồng độ oxy bên trong lòng các búi giãn tĩnh mạch ở nhiều tư thế khác nhau và trong khi vận động [4]. Nhóm nghiên cứu thực hiện đặt ống thông vào tĩnh mạch của 39 bệnh nhân bị giãn tĩnh mạch nguyên phát và đối chiếu với tĩnh mạch hiển lớn của 10 người khỏe mạnh thuộc nhóm chứng [4]. Kết quả cho thấy ở tư thế nằm ngửa, áp lực trung bình trong búi giãn tĩnh mạch là 12,3 mmHg (độ lệch chuẩn 3,6 mmHg), tương đương với nhóm người khỏe mạnh [4].

Tuy nhiên, khi chuyển sang tư thế đứng thẳng, áp lực trong các búi giãn tĩnh mạch tăng vọt lên mức trung bình 66 mmHg (độ lệch chuẩn 9 mmHg) và tỷ lệ thuận với khoảng cách từ búi tĩnh mạch đó đến tim [4]. Đáng chú ý, sau khi vận động, mức giảm áp lực trong tĩnh mạch của người bệnh thấp hơn đáng kể và thời gian phục hồi áp lực cũng ngắn hơn nhiều so với người bình thường [4]. Nồng độ oxy máu tĩnh mạch ở búi giãn khi nằm là 4,5 kPa (độ lệch chuẩn 1,0) cũng giảm xuống còn 3,9 kPa (độ lệch chuẩn 0,9) khi đứng [4].

Một nghiên cứu khác thực hiện năm 1990 trên 26 người (gồm 13 người khỏe mạnh và 13 người bị giãn tĩnh mạch không biến chứng) cũng đánh giá sự thay đổi oxy máu theo thời gian đứng [5]. Mẫu máu được lấy ở tĩnh mạch hiển lớn hoặc búi giãn tĩnh mạch gần mắt cá chân sau 30 phút nằm ngửa và lặp lại sau 30 phút đứng yên [5]. Kết quả ghi nhận ở cả hai nhóm, phân áp oxy trong máu tĩnh mạch chân khi đứng 30 phút đều sụt giảm rõ rệt so với khi nằm: ở nhóm giãn tĩnh mạch giảm từ mức trung vị 6,09 kPa xuống 3,93 kPa, và ở nhóm chứng giảm từ 4,54 kPa xuống 3,74 kPa [5].

Về tác động của thời gian đứng tích lũy hàng ngày, một nghiên cứu bệnh - chứng công bố năm 2021 khẳng định tư thế đứng lâu là yếu tố dự báo độc lập của bệnh giãn tĩnh mạch chi dưới [6]. Nghiên cứu này chỉ ra việc đứng trên 4 giờ/ngày, thường xuyên nâng vật nặng và ngủ dưới 8 giờ/ngày đều làm tăng nguy cơ mắc bệnh [6]. Những nhóm nghề nghiệp có thời gian đứng trung bình ngắn nhất như thư ký, nhân viên khoa học hay trợ lý kỹ thuật y tế có tỷ lệ mắc giãn tĩnh mạch thấp nhất [6].

Tương tự, một nghiên cứu cắt ngang năm 2022 thực hiện trên 399 giáo viên (độ tuổi trung bình 43,2 ± 12,9; 54,1% là nam giới) tại Ả Rập Xê Út cũng cho thấy hệ lụy của việc đứng làm việc [7]. Trong nhóm này, 43,6% đã làm việc trên 16 năm và 72,7% đứng dưới 6 giờ/ngày [7]. Triệu chứng phổ biến nhất là đau chân tăng lên khi làm việc (chiếm 43,1%), dấu hiệu thực thể hay gặp nhất là tĩnh mạch mạng nhện (23,8%) và 18,5% giáo viên đã được chẩn đoán mắc giãn tĩnh mạch từ trước [7].

Ở mức độ nghiêm trọng hơn, một báo cáo ca bệnh từng ghi nhận bệnh nhân nam 42 tuổi bị giãn tĩnh mạch hai chân rất lớn kèm tiền sử ngất xỉu suốt 8 tháng mỗi khi đứng dậy từ tư thế ngồi xổm [8]. Siêu âm mạch máu cho thấy dòng trào ngược tĩnh mạch hiển lớn hai bên với đường kính tĩnh mạch tại vùng bẹn lên tới 23,5 mm và 24,0 mm kéo dài xuống tận mắt cá chân [8]. Các tác giả tính toán rằng khi bệnh nhân đứng lên, khoảng 500 ml máu đã trào ngược thụ động theo trọng lực từ hệ tĩnh mạch sâu vào các tĩnh mạch giãn, gây thiếu máu lên não tạm thời và dẫn đến ngất tư thế [8].

Lợi ích của yoga và giới hạn của các bằng chứng hiện tại

Một tổng quan khoa học công bố năm 2022 ghi nhận tập yoga hoặc thể dục đều đặn là một trong những biện pháp giúp phòng ngừa bệnh giãn tĩnh mạch bên cạnh các phương pháp điều trị nội mạch, phẫu thuật và thảo dược [1]. Tuy vậy, các tài liệu y học lao động từ năm 2004 đến 2018 nhấn mạnh rằng hình thức vận động mang lại lợi ích cụ thể là các bài tập kéo giãn và đi bộ, kết hợp xoa bóp tại chỗ [2]. Như vậy, lợi ích của yoga nằm ở sự co giãn linh hoạt chứ không phải ở việc gồng giữ một tư thế đứng bất động.

Mặt khác, giới hạn của các bằng chứng hiện tại là chưa có sự đồng thuận tuyệt đối về mối liên hệ trực tiếp giữa việc tập luyện hay áp lực đứng đơn thuần với sự hình thành bệnh [1, 5]. Nghiên cứu năm 2021 không tìm thấy mối liên quan giữa tập thể dục đều đặn với sự phát triển giãn tĩnh mạch, trong khi một số nghiên cứu khác lại cho thấy tập thể dục có tác dụng bảo vệ [6]. Các tác giả cho rằng sự khác biệt này xuất phát từ việc các nghiên cứu sử dụng định nghĩa khác nhau về thuật ngữ "tập thể dục đều đặn" [6].

Một phân tích y khoa năm 2007 cũng chỉ ra rằng bản thân áp lực thủy tĩnh khi đứng không phải là nguyên nhân duy nhất gây suy tĩnh mạch mạn tính [3]. Dù áp lực tĩnh mạch khi ngồi (60-80 mm nước) gần với khi đứng (khoảng 100 mm nước) hơn nhiều so với khi đi bộ (20 mm nước), tỷ lệ suy tĩnh mạch ở người làm việc ngồi lại không cao tương ứng [3]. Hơn nữa, dù tần suất trào ngược và tăng áp lực tĩnh mạch khá phổ biến, phần lớn người mắc lại không có triệu chứng lâm sàng [3].

Những hiểu lầm thường gặp khi tập luyện và sinh hoạt

Hiểu lầm phổ biến nhất là đánh đồng mọi tư thế trong yoga đều tốt như nhau cho mạch máu chân. Thực tế, việc giữ tư thế tĩnh và co cơ liên tục làm cơ bắp nhanh kiệt sức, trực tiếp thúc đẩy tình trạng ứ máu ở chi dưới [2]. Ngay cả khi vận động, khả năng giảm áp lực trong lòng tĩnh mạch của người đã mắc bệnh cũng kém hơn và tĩnh mạch bị đầy máu trở lại nhanh hơn nhiều so với người bình thường [4].

Hiểu lầm thứ hai là chỉ chú ý đến việc đứng tập mà bỏ qua áp lực ổ bụng từ thói quen ăn uống và tiêu hóa hàng ngày. Nghiên cứu năm 2021 chứng minh chế độ ăn ít chất xơ, uống dưới 5 cốc nước mỗi ngày và đại tiện không đều là những yếu tố dự báo độc lập của bệnh giãn tĩnh mạch chân [6]. Tình trạng táo bón làm tăng áp lực trong ổ bụng, từ đó cản trở trực tiếp dòng máu tĩnh mạch trở về tim [6].

Ngoài ra, nhiều người mặc định chỉ người thừa cân, béo phì mới bị giãn tĩnh mạch khi đứng lâu. Dù các tổng quan y văn năm 2019 và 2022 xếp béo phì và lối sống tĩnh tại vào nhóm yếu tố nguy cơ chính của bệnh [3, 8], nghiên cứu bệnh - chứng năm 2021 lại cho thấy chỉ số khối cơ thể (BMI) từ 25 trở lên không phải là yếu tố dự báo độc lập trong nhóm khảo sát của họ [6]. Mối liên quan với béo phì trong một số tài liệu trước đó cũng chỉ ghi nhận ở phụ nữ mà không thấy ở nam giới [6].

Ai nên thận trọng khi thực hiện các tư thế đứng?

Nhóm đầu tiên cần đặc biệt thận trọng là những người đã có triệu chứng đau mỏi chân, nặng chân, sưng phù hoặc xuất hiện tĩnh mạch mạng nhện (dấu hiệu gặp ở 23,8% giáo viên trong khảo sát) [3, 6]. Phụ nữ có tiền sử gia đình mắc giãn tĩnh mạch cũng thuộc nhóm có nguy cơ phát triển bệnh cao hơn và cần tránh gây áp lực tĩnh kéo dài lên hai chân [7]. Nếu không được kiểm soát và điều trị, giãn tĩnh mạch có thể tiến triển thành loét tĩnh mạch hoặc dẫn đến cục máu đông gây biến chứng nguy hiểm [3, 8].

Những người có công việc đặc thù phải đứng trên 4 giờ/ngày hoặc có thói quen nâng vật nặng thường xuyên không nên cộng dồn thêm áp lực đứng tĩnh trong giờ tập thể dục [6]. Thay vì thử thách bản thân bằng các thế đứng thăng bằng lâu, nhóm này cần ưu tiên giải phóng áp lực thủy tĩnh cho hệ mạch máu sau giờ làm việc [3, 7].

Đặc biệt, người có các búi giãn tĩnh mạch lớn ở hai chân hoặc từng có biểu hiện choáng váng, ngất xỉu khi thay đổi tư thế đứng lên cần tuyệt đối cẩn trọng [8]. Như ca bệnh nam giới 42 tuổi đã nêu, sự trào ngược một lượng máu lớn (khoảng 500 ml) dồn xuống chân theo trọng lực khi đứng có thể gây ngất xỉu dù tim mạch hoàn toàn bình thường [8]. Người có bệnh nền hoặc đang dùng thuốc cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi tập luyện và thăm khám sớm để được can thiệp y tế phù hợp như đốt laser nội mạch khi có chỉ định [2, 8].

Áp dụng thực tế: Tập luyện và ăn uống thế nào để bảo vệ tĩnh mạch?

Khi tập yoga hoặc thể dục, người bị giãn tĩnh mạch nên chuyển trọng tâm sang các động tác kéo giãn nhịp nhàng và đi bộ để kích hoạt bơm cơ, giúp hạ áp lực tĩnh mạch xuống mức thấp (khoảng 20 mm nước khi đi bộ) [3, 5]. Cuối buổi tập hoặc khi nghỉ ngơi, nên thực hiện tư thế nằm nâng cao hai chân sao cho bàn chân cao hơn mức tim khoảng 15 cm, kết hợp xoa bóp nhẹ nhàng tại chỗ để hỗ trợ máu về tim [2]. Trong sinh hoạt và tập luyện, việc sử dụng tất áp lực (vớ y khoa) hoặc băng cuốn theo chỉ định của bác sĩ sẽ giúp bảo vệ thành mạch hiệu quả hơn [2].

Về chế độ dinh dưỡng và sinh hoạt hỗ trợ, người bệnh cần uống từ 5 cốc nước trở lên mỗi ngày, tăng cường chất xơ để duy trì việc đại tiện đều đặn, tránh táo bón gây cản trở dòng máu tĩnh mạch trở về [6]. Đồng thời, cần đảm bảo ngủ đủ từ 8 giờ/ngày trở lên và hạn chế mang vác vật nặng [6]. Việc bổ sung các loại trái cây, rau củ và thảo mộc như nho, mâm xôi đen, bơ, gừng và hương thảo cũng được ghi nhận giúp hỗ trợ phòng ngừa bệnh [1].

Đối với người đã có chỉ định dùng thuốc từ bác sĩ, các hoạt chất hướng tĩnh mạch và chống oxy hóa nhóm flavonoid, saponin, diosmin, calcium dobesilate, rutosides hoặc chiết xuất hạt dẻ ngựa có tác dụng điều trị rối loạn tĩnh mạch mạn tính, giảm huyết áp động mạch và ngăn ngừa biến chứng huyết khối [3, 8]. Các thuốc này cần được dùng đúng hướng dẫn y khoa, kết hợp với lối sống vận động linh hoạt để cải thiện chất lượng sống tối ưu [3, 8].

Tóm lại, tập yoga và vận động thể chất là thói quen tốt giúp phòng ngừa giãn tĩnh mạch, nhưng người bệnh không nên giữ các tư thế đứng thăng bằng bất động quá lâu làm tăng áp lực máu dồn xuống chân [3, 7, 8]. Hãy ưu tiên các bài tập kéo giãn, đi bộ nhịp nhàng, kết hợp gác chân cao khoảng 15 cm so với tim và uống đủ nước, ăn nhiều chất xơ [1, 3]. Nếu chân có biểu hiện đau tức, sưng phù hoặc nổi gân xanh rõ, bạn nên hỏi ý kiến bác sĩ để được tư vấn phác đồ điều trị và bài tập an toàn nhất [3, 6].