Trứng là món ăn quen thuộc, giàu dinh dưỡng và hiện diện trong bữa cơm của hầu hết gia đình Việt Nam. Tuy nhiên, không ít người sau khi phát hiện mắc sỏi đường tiết niệu liền lập tức loại bỏ hoàn toàn trứng ra khỏi khẩu phần vì lo ngại lượng đạm sẽ khiến sỏi phát triển nhanh hơn.
Thực tế, người bị sỏi thận hoàn toàn có thể ăn trứng, nhưng cần sử dụng với lượng vừa phải và biết cách kết hợp khoa học trong thực đơn mỗi ngày. Bản thân trứng không chứa oxalat – thành phần chính tạo nên loại sỏi phổ biến nhất, nhưng việc lạm dụng quá nhiều đạm động vật lại có thể tác động trực tiếp đến độ pH và sự bài tiết calci trong nước tiểu.
Bản chất của trứng và tác động tới oxalat, calci niệu
Để hiểu rõ người bệnh sỏi thận có nên ăn trứng hay không, cần phân tích sự chuyển hóa của các chất cấu tạo nên sỏi, đặc biệt là oxalat và calci. Oxalat là hợp chất tự nhiên có nhiều trong thực vật nhưng hoàn toàn vắng mặt hoặc chỉ có vết không đáng kể trong thực phẩm có nguồn gốc từ động vật như trứng. Do đó, ăn trứng trực tiếp không làm gia tăng lượng oxalat nạp vào cơ thể qua đường tiêu hóa.
Tuy nhiên, mối liên hệ giữa trứng và sự bài tiết oxalat lại chịu sự chi phối gián tiếp từ lượng chất béo. Theo các nghiên cứu về chế độ ăn và bệnh lý sỏi thận, lượng chất béo tự do trong lòng ruột có khả năng liên kết với calci tự do để tạo thành xà phòng không tan [1]. Hiện tượng này khiến lượng calci tự do trong ruột bị sụt giảm, không còn đủ để gắn kết với oxalat từ thức ăn khác tạo thành phức hợp đào thải qua phân [1]. Hậu quả là lượng oxalat tự do không được liên kết sẽ tăng cường hấp thu vào máu rồi bài tiết nhiều hơn qua nước tiểu [1].
Mặt khác, trứng là một nguồn cung cấp protein động vật hoàn chỉnh. Khi cơ thể dung nạp protein động vật, quá trình dị hóa sẽ sản sinh ra một lượng lớn các ion acid hay proton [2]. Tình trạng toan hóa nhẹ này kích thích ống lượn gần của thận tăng cường tái hấp thu citrate, dẫn đến sự sụt giảm lượng citrate bài tiết trong nước tiểu [2]. Citrate vốn là chất ức chế tự nhiên ngăn cản calci kết tinh với oxalat hoặc phosphat, nên việc giảm citrate kết hợp với việc gia tăng bài tiết calci niệu sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho tinh thể sỏi hình thành và lắng đọng [2].
Các nghiên cứu khoa học ghi nhận điều gì về đạm động vật?
Ảnh hưởng của protein động vật đối với bệnh sỏi thận đã được đánh giá qua nhiều nghiên cứu dịch tễ học và can thiệp dinh dưỡng trên quy mô lớn. Một tổng quan nghiên cứu công bố năm 2023 chỉ ra rằng các chế độ ăn hạn chế carbohydrate nhưng giàu protein hoặc chế độ ăn ketogenic có thể làm gia tăng nguy cơ mắc sỏi thận [1]. Do đó, người bệnh thường được khuyến cáo nên duy trì chế độ ăn nhiều thực vật toàn phần, bao gồm rau củ và trái cây, đồng thời hạn chế tối đa việc tiêu thụ các loại protein có nguồn gốc động vật [1].
Trong dịch tễ học bệnh sỏi thận, các nhà khoa học cũng đồng thuận rộng rãi rằng chế độ ăn nhiều muối và dư thừa đạm động vật hay thịt là những yếu tố nguy cơ kinh điển [2]. Nguồn proton từ đạm động vật không chỉ làm giảm bài tiết chất ức chế citrate và tăng đào thải calci niệu mà còn làm giảm pH nước tiểu và tăng nồng độ acid uric niệu, thúc đẩy hình thành cả sỏi calci và sỏi acid uric [2]. Một nghiên cứu can thiệp tổng quan năm 2024 cũng khẳng định protein cùng với natri clorua, calci, oxalat, chất béo và carbohydrate đều là các yếu tố tham gia trực tiếp vào tiến trình hình thành sỏi thận [3]. Lịch sử mắc sỏi thận còn được ghi nhận làm tăng nguy cơ tiến triển thành bệnh thận mạn tính và suy thận giai đoạn cuối [3].
Mặc dù vậy, tác động của từng loại đạm động vật lên cơ thể lại không hoàn toàn đồng nhất. Một nghiên cứu công bố năm 2025 kết hợp dữ liệu khảo sát dinh dưỡng NHANES và phương pháp phân tích ngẫu nhiên Mendel đã khảo sát mối liên quan giữa các loại thịt khác nhau với nguy cơ sỏi thận [4]. Kết quả phân tích tiến cứu cho thấy việc tiêu thụ cá hồi liên quan nghịch với nguy cơ sỏi thận với tỷ số chênh OR là 0,861, trong khi cá tuyết lại làm tăng nguy cơ với OR là 1,288 [4]. Phân tích biến thể di truyền cũng xác nhận việc tiêu thụ cá béo giúp giảm nguy cơ sỏi với OR là 0,67, trái ngược với cá không béo có OR là 1,55 và thịt lợn có OR là 1,54 làm tăng nguy cơ sỏi [4].
Vì sao có sự khác biệt giữa các bằng chứng nghiên cứu?
Dù nhiều tài liệu y khoa xếp protein động vật vào nhóm làm tăng nguy cơ sỏi, một số nghiên cứu quan sát quy mô lớn lại ghi nhận kết quả không hoàn toàn tương đồng. Điển hình là báo cáo từ Nghiên cứu Sức khỏe Phụ nữ (WHI OS) công bố năm 2014 theo dõi trên phụ nữ sau mãn kinh [5]. Trong nghiên cứu này, lượng protein động vật ăn vào không làm tăng nguy cơ hình thành sỏi thận mới trên cả phân tích đơn biến lẫn đa biến sau khi đã hiệu chỉnh các yếu tố gây nhiễu [5].
Các nhà nghiên cứu tại WHI OS đưa ra giả thuyết rằng việc nạp nhiều protein động vật có thể chỉ đóng góp vào sự hình thành sỏi thận ở một nhóm nhỏ bệnh nhân nhạy cảm [5]. Một khả năng khác là vai trò của protein động vật trong đời sống thực tế có thể không quá áp đảo như các thử nghiệm chuyển hóa ngắn hạn từng khẳng định [5]. Thay vào đó, những yếu tố đi kèm như lượng nước uống và nồng độ muối natri mới là những biến số tạo ra sự khác biệt quyết định [5].
Cụ thể, nghiên cứu WHI OS chỉ ra rằng lượng natri ăn vào tăng làm nguy cơ sỏi thận tăng từ 11% đến 61%, rõ rệt nhất ở nhóm phụ nữ tiêu thụ trên 3.249 mg natri mỗi ngày [5]. Natri dư thừa kéo theo sự gia tăng bài tiết cả natri và calci qua nước tiểu [5]. Tuy nhiên, nguy cơ này có thể bị triệt tiêu một phần nếu người tham gia đồng thời duy trì thói quen uống nhiều nước, giúp giảm độ bão hòa tinh thể trong nước tiểu [5]. Do đó, việc ăn trứng hay nạp đạm có biến thành tác nhân gây sỏi hay không phụ thuộc rất lớn vào tổng thể cấu trúc bữa ăn, đặc biệt là lượng muối và thói quen bù nước của mỗi người.
Những hiểu lầm tai hại khi ăn kiêng chữa sỏi thận
Nhiều người bệnh khi phát hiện có tinh thể calci oxalat trong thận thường rơi vào tâm lý hoang mang và thực hiện ăn kiêng cực đoan. Hiểu lầm phổ biến nhất là cắt giảm hoàn toàn thực phẩm chứa calci, bao gồm cả việc kiêng sữa, phô mai và trứng, vì nghĩ rằng thừa calci gây nên sỏi.
Quan niệm này hoàn toàn trái ngược với các bằng chứng y học hiện đại. Nghiên cứu tổng quan hệ thống dạng ô năm 2024 chỉ ra rằng việc bổ sung calci hay tiêu thụ calci từ khẩu phần ăn không làm tăng nguy cơ, thậm chí chế độ ăn giàu calci còn cho thấy xu hướng làm giảm hình thành sỏi thận [6]. Việc cắt giảm calci quá mức trong chế độ ăn thậm chí bị xem là không an toàn đối với sức khỏe xương và cơ chế cân bằng chất khoáng [2]. Khi bữa ăn thiếu hụt calci, oxalat từ rau củ tự do di chuyển xuống ruột non và đại tràng mà không bị kết tủa, dẫn đến việc oxalat ngấm nhiều hơn vào hệ tuần hoàn và đào thải ồ ạt qua thận [1].
Một sai lầm khác là tập trung kiêng khem đạm nhưng lại vô tư tiêu thụ đồ ngọt và nước có ga. Một nghiên cứu trên 3 đoàn hệ lớn gồm HPFS, NHS I và NHS II với tổng cộng 194.095 người tham gia đã chứng minh nước ngọt có đường làm tăng đáng kể nguy cơ tạo sỏi [7]. Nước giải khát có ga chứa trung bình 150 calo mỗi lon 350 ml và thường được bổ sung lượng lớn đường fructose [7]. Fructose làm gia tăng sự đào thải đồng thời của cả calci, oxalat và acid uric qua nước tiểu [7]. Uống ít nhất một khẩu phần nước ngọt có đường mỗi ngày làm tăng nguy cơ sỏi từ 23% đến 33% so với người uống dưới một khẩu phần mỗi tuần [2].
Ai nên thận trọng khi đưa trứng vào thực đơn?
Dù trứng là thực phẩm giàu giá trị sinh học và an toàn với đa số người mắc sỏi nhỏ thể yên lặng, một số nhóm bệnh nhân cần đặc biệt kiểm soát liều lượng dung nạp hàng ngày:
- Người có tiền sử sỏi acid uric hoặc nước tiểu có tính toan cao: Do đạm động vật làm giảm pH nước tiểu và thúc đẩy đào thải acid uric niệu, nhóm này không nên ăn quá nhiều lòng trắng hay các bữa ăn thuần đạm [2].
- Bệnh nhân sỏi thận có kèm tăng calci niệu tự phát: Sự chuyển hóa protein động vật giải phóng nhiều proton làm giảm tái hấp thu calci ở thận, khiến nồng độ calci trong nước tiểu tăng vọt [2].
- Bệnh nhân mắc hội chứng chuyển hóa, thừa cân hoặc béo phì: Nghiên cứu tổng quan ô năm 2024 cho thấy vòng eo lớn, chỉ số khối cơ thể (BMI) cao và bệnh đái tháo đường týp 2 là những yếu tố nguy cơ thúc đẩy bệnh sỏi thận tiến triển [6]. Việc ăn trứng chiên rán nhiều mỡ động vật sẽ làm gia tăng tổng năng lượng và khiến lượng mỡ trong ruột liên kết calci, làm tăng oxalat niệu [1].
- Người có thói quen ăn mặn và ít uống nước: Nồng độ natri nạp vào cao kết hợp cùng lượng protein động vật dư thừa sẽ tạo ra gánh nặng đào thải kép cho cầu thận, thúc đẩy calci niệu tăng nhanh [5].
Những trường hợp người bệnh đang mắc kèm bệnh thận mạn tính tiến triển, suy giảm mức lọc cầu thận hoặc đang điều trị thuốc chuyên khoa cần tham khảo ý kiến trực tiếp của bác sĩ điều trị hoặc chuyên gia dinh dưỡng lâm sàng để tính toán lượng đạm cụ thể cho từng giai đoạn bệnh.
Hướng dẫn ăn trứng đúng cách và bảo vệ đường tiết niệu
Để tận dụng nguồn dinh dưỡng dồi dào từ trứng mà không làm gia tăng nguy cơ tái phát sỏi, người bệnh có thể áp dụng các nguyên tắc chế biến và cân đối khẩu phần dựa trên khuyến cáo khoa học:
- Kiểm soát số lượng hợp lý: Người bị sỏi thận không cần kiêng tuyệt đối mà nên duy trì khoảng 3-4 quả trứng mỗi tuần, chia đều cho các bữa ăn thay vì ăn dồn một lúc. Không nên áp dụng các chế độ ăn kiêng giàu đạm hoặc chế độ ketogenic vốn làm tăng nguy cơ sỏi [1].
- Ưu tiên chế biến luộc hoặc hấp: Nên hạn chế các món trứng ốp la nhiều dầu mỡ hay trứng xào bơ. Việc giảm chất béo tự do trong bữa ăn sẽ ngăn ngừa hiện tượng chất béo tạo phức với calci trong lòng ruột, từ đó kiểm soát lượng oxalat bài tiết qua nước tiểu [1].
- Kết hợp với rau củ và sữa: Một nghiên cứu bệnh chứng năm 2022 tại Rajasthan chỉ ra rằng việc giảm trà, hạn chế đồ ăn vặt, ăn rau quả ít oxalat và duy trì dùng sữa hay chế phẩm từ sữa hàng ngày giúp giảm rõ rệt tỷ lệ mắc sỏi thận [8]. Khi ăn các loại rau củ chứa nhiều oxalat, nên uống nhiều nước và dùng kèm sữa để calci liên kết oxalat ngay tại ruột [1].
- Giảm thiểu lượng muối ăn: Không nên chấm trứng với nhiều muối tiêu hay gia vị mặn. Cần duy trì lượng natri ăn vào dưới mức khuyến nghị nhằm hạn chế tình trạng tăng calci niệu thứ phát do thừa muối [5].
- Duy trì lượng nước đầy đủ: Nước là can thiệp dinh dưỡng quan trọng hàng đầu trong việc giảm thiểu tạo sỏi [7]. Nghiên cứu chỉ ra rằng cứ mỗi 200 mL nước uống tăng thêm mỗi ngày sẽ giúp giảm 13% nguy cơ hình thành sỏi [7]. Một nghiên cứu từ dữ liệu NHANES trên 8.195 người trưởng thành khẳng định việc uống trên 2.500 mL nước mỗi ngày để đạt lượng nước tiểu bài tiết trên 2 lít mỗi ngày giúp giảm tỷ lệ mắc sỏi rõ rệt [2].
Người bị sỏi thận hoàn toàn không cần loại bỏ trứng khỏi thực đơn thường nhật. Chìa khóa để phòng ngừa sỏi tái phát nằm ở sự cân bằng tổng thể: ăn trứng ở mức độ vừa phải, cắt giảm muối và đường công nghiệp, duy trì vận động thể chất và đảm bảo cung cấp đủ lượng nước lọc hàng ngày cho cơ thể.
