Nỗi sợ mang tên đậu phụ của người bệnh thận

Nhiều người khi nhận kết quả chẩn đoán suy thận mạn thường ngay lập tức gạch tên các chế phẩm từ đậu tương như đậu phụ, sữa đậu nành khỏi thực đơn hàng ngày. Quan niệm dân gian truyền miệng cho rằng người bệnh thận chỉ nên bồi bổ bằng thịt đỏ hoặc kiêng tuyệt đối các loại hạt, đậu vì sợ làm thận "quá tải" và khiến tình trạng tiểu ra đạm trở nên trầm trọng hơn.

Thực tế, chế độ ăn uống đóng vai trò then chốt trong việc làm chậm tốc độ suy giảm chức năng thận và kiểm soát các triệu chứng phát sinh [1]. Tuy nhiên, việc kiêng khem mù quáng và thiếu hụt dinh dưỡng lại là yếu tố bất lợi ảnh hưởng lớn đến kết cục lâm sàng của người bệnh [2]. Liệu đậu phụ có thực sự nguy hiểm như lời đồn, hay đây lại là nguồn dinh dưỡng giá trị bị bỏ quên?

Người suy thận giai đoạn sớm có được ăn đậu phụ không?

Câu trả lời ngắn gọn là hoàn toàn có thể, thậm chí còn mang lại nhiều lợi ích nếu ăn đúng cách và đúng thời điểm. Người mắc bệnh thận mạn giai đoạn sớm không những không cần kiêng tuyệt đối mà còn được khuyến khích sử dụng các nguồn đạm thực vật chất lượng cao như đậu phụ để thay thế một phần đạm động vật.

Đậu nành từ lâu đã được giới khoa học xem là nguồn đạm thực vật chất lượng cao cung cấp đầy đủ các dưỡng chất cần thiết cho cơ thể [2]. Việc duy trì một chế độ ăn giảm bớt protein tổng thể nhưng vẫn phải đảm bảo đủ lượng dinh dưỡng thiết yếu là điều vô cùng quan trọng đối với bệnh nhân suy thận [1]. Hiện nay, nhiều bác sĩ và chuyên gia dinh dưỡng đã khuyến cáo đưa các chế phẩm từ đậu tương vào thực đơn cho bệnh nhân mắc bệnh thận mạn nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng [2].

Vì sao đạm đậu nành giúp kiểm soát protein niệu và bảo vệ thận?

Đối với người bệnh thận mạn, việc xuất hiện đạm trong nước tiểu (protein niệu) phản ánh màng lọc cầu thận đang bị tổn thương và chịu áp lực lọc quá mức. Trong các nguồn đạm thực vật, protein từ đậu tương là đối tượng được nghiên cứu sâu rộng nhất trên các bệnh nhân mắc bệnh lý về thận [1]. Các thử nghiệm lâm sàng đã chứng minh rằng tiêu thụ đạm đậu nành giúp cải thiện đáng kể tình trạng protein niệu ở cả bệnh nhân bệnh thận do đái tháo đường và không do đái tháo đường [1].

Không chỉ kiểm soát lượng protein đào thoát qua nước tiểu, đạm đậu nành còn làm chậm tốc độ suy giảm độ lọc cầu thận ước tính [1]. Tác dụng bảo tồn chức năng thận này một phần đến từ khả năng can thiệp tích cực vào các yếu tố nguy cơ tim mạch và chuyển hóa đi kèm. Cụ thể, việc dùng đạm đậu nành giúp cải thiện tình trạng rối loạn lipid máu, hỗ trợ hạ huyết áp và điều hòa đường huyết [1]. Bên cạnh đó, các hoạt chất sinh học trong đậu nành còn nâng cao mức độ chống oxy hóa và ức chế các phản ứng viêm toàn thân ở bệnh nhân bệnh thận mạn qua các giai đoạn [1].

Về mặt sinh học phân tử, đạm đậu nành tác động trực tiếp lên huyết động học của thận và sự cân bằng của các chất trung gian gây viêm. Ở các mô hình thận tổn thương, việc bổ sung đạm đậu nành giúp ức chế sự gia tăng bất thường của enzym cyclooxygenase (COX) và cytosolic phospholipase A2 [3]. Sự điều biến này làm giảm nồng độ thromboxane B2 và 6-keto PGF1alpha, các chất liên quan mật thiết đến xơ hóa mạch máu và suy giảm tưới máu thận [3].

Các nghiên cứu nói gì về đạm đậu nành đối với bệnh thận?

Hàng loạt nghiên cứu thực nghiệm và đánh giá tổng quan đã làm sáng tỏ cơ chế bảo vệ thận của nguồn đạm thực vật này qua từng thông số cụ thể:

Nghiên cứu công bố năm 2004 trên 87 chuột non Han:SPRD-cy mắc bệnh thận mạn giai đoạn rất sớm đã tiến hành so sánh chế độ ăn chứa đạm đậu nành với chế độ ăn dựa trên đạm động vật casein [4]. Sau 1 tuần can thiệp, chế độ ăn đậu nành đã giúp giảm 22% mức độ xơ hóa thận và con số này tiếp tục giảm tới 38% sau 3 tuần áp dụng [4]. Sự phát triển của các nang thận cũng giảm 34% sau 3 tuần tiêu thụ đạm đậu nành [4]. Chế độ ăn này đồng thời khôi phục mức giải phóng prostaglandin E2 nội tại cao hơn từ 31% đến 32% so với nhóm ăn casein sau 1 và 3 tuần, chứng minh lợi ích bảo vệ cấu trúc thận xuất hiện từ rất sớm [4].

Một đánh giá tổng quan vào năm 2017 đã củng cố thêm các phát hiện trên khi tổng hợp nhiều công trình thực nghiệm [5]. Các phân tích khẳng định hoạt chất soyasaponin chiết xuất từ đậu nành giúp làm giảm đáng kể nồng độ creatinine huyết tương, nồng độ urê trong máu, lượng nước tích tụ và trọng lượng thận phì đại ở chuột thí nghiệm [5]. Đồng thời, các bằng chứng cũng ghi nhận chế độ ăn đạm đậu nành giúp giảm lượng acid béo 18:2(n-6) trong mô thận ngay từ tuần đầu tiên áp dụng [5].

Trong một nghiên cứu khác thực hiện vào năm 2009 kéo dài 7 tuần trên mô hình chuột bệnh thận, chế độ ăn đạm đậu nành đã làm giảm 49% nồng độ ổn định của thromboxane B2 và giảm 76% lượng 6-keto PGF1alpha do enzym COX1 sản sinh trong thận bệnh lý [3]. Hoạt động tổng hợp các chất gây viêm thông qua enzym COX2 cũng giảm tương ứng 47% với thromboxane B2 và 36% với 6-keto PGF1alpha [3].

Vào năm 2001, một nghiên cứu kéo dài 6 tuần so sánh khẩu phần đạm đậu nành và casein trên chuột Han:SPRD-cy cho thấy nhóm ăn đậu nành có trọng lượng thận nhẹ hơn, giảm nồng độ creatinine và urê huyết thanh, đồng thời gia tăng độ thanh thải creatinine [6]. Đáng chú ý, ở chuột cái mắc bệnh, đạm đậu nành đã giúp đưa creatinine huyết thanh và độ thanh thải creatinine trở về mức bình thường [6]. Đạm đậu nành cũng hạ thấp nồng độ yếu tố tăng trưởng giống insulin (IGF-I) trong mô thận của chuột đực từ 1496 ng xuống 1123 ng và ở chuột cái từ 943 ng xuống 816 ng, làm chậm quá trình tiến triển bệnh [6].

Năm 2016, nghiên cứu kéo dài 8 tuần trên chuột mắc bệnh thận mạn ghi nhận đạm đậu nành giúp cải thiện nhẹ huyết áp tâm thu và huyết áp động mạch trung bình [7]. Dù vậy, nghiên cứu này ghi nhận đạm đậu nành đơn thuần không cải thiện được tình trạng rối loạn chức năng tâm trương của tim, trong khi dầu cá lại giải quyết được khiếm khuyết này [7].

Nghịch lý từ khảo sát thực tế và những hiểu lầm thường gặp

Mặc dù các tài liệu khoa học chỉ ra nhiều lợi ích, thực tế người bệnh lại tiếp cận vấn đề này với tâm lý rất e dè. Một khảo sát thực hiện năm 2022 tại 3 trung tâm y tế lớn ở Trung Quốc trên 570 bệnh nhân bệnh thận mạn đã phơi bày một nghịch lý đáng lo ngại [2].

Kết quả cho thấy có tới 85,6% người bệnh nhận thức được tầm quan trọng của chế độ ăn giàu đạm chất lượng cao đối với việc điều trị bệnh [2]. Tuy nhiên, chỉ có 41,9% người tham gia biết rằng các món ăn từ đậu nành chính là nguồn cung cấp đạm chất lượng cao [2]. Đáng kinh ngạc hơn, có tới 90,4% bệnh nhân bị chi phối bởi quan niệm sai lầm cho rằng người mắc bệnh thận mạn bắt buộc phải kiêng tuyệt đối các sản phẩm từ đậu nành [2]. Thậm chí ở nhóm bệnh nhân lọc màng bụng, mặc dù tỷ lệ nhận biết giá trị của đạm đậu nành cao hơn các nhóm khác, vẫn có tới 68,8% người kiên quyết không ăn bất kỳ món nào từ đậu vì lo sợ bệnh chuyển biến xấu [2].

Tình trạng bệnh nhân xa lánh thực phẩm từ đậu phần lớn bắt nguồn từ những thông tin chưa chính xác lan truyền trên mạng xã hội hoặc sự tư vấn thiếu cập nhật từ nhân viên y tế [2]. Việc thiếu hụt kiến thức khoa học đã khiến nhiều người tự ý cắt giảm đạm lành mạnh, dẫn đến nguy cơ suy dinh dưỡng và làm giảm chất lượng sống.

Can thiệp sớm hay muộn: Lợi ích và giới hạn của bằng chứng

Một phát hiện then chốt từ các công trình nghiên cứu là thời điểm can thiệp dinh dưỡng đóng vai trò quyết định hiệu quả bảo vệ thận. Các dấu hiệu phục hồi mô thận xuất hiện rõ ràng khi người bệnh bắt đầu can thiệp ở giai đoạn đầu của bệnh [4].

Ngược lại, nếu chỉ bắt đầu thay đổi chế độ ăn khi thận đã tổn thương quá nặng, lợi ích sẽ bị thu hẹp đáng kể. Một nghiên cứu thực hiện năm 2007 can thiệp trên chuột mắc bệnh thận đã trưởng thành (2 tháng tuổi) trong vòng 4 tháng cho thấy việc bổ sung 20% đạm đậu nành chỉ giúp giảm 21-24% mức độ tổn thương do oxy hóa, giảm 21-24% tế bào tăng sinh và giảm 13-15% phản ứng viêm tại thận [8]. Khi can thiệp ở giai đoạn muộn này, đạm đậu nành không thể đảo ngược hay làm thay đổi kích thước nang thận, mức độ xơ hóa mô và chỉ số creatinine huyết thanh [8].

Bên cạnh đó, người bệnh cần lưu ý rằng phần lớn các cơ chế phân tử chi tiết hiện nay được chứng minh trên các mô hình động vật thí nghiệm [1]. Do đó, việc ứng dụng đậu phụ vào bữa ăn cần sự điều chỉnh linh hoạt tùy theo thể trạng từng cá nhân chứ không thể xem đậu nành như một vị thuốc đặc trị thay thế phác đồ điều trị của bác sĩ.

Những ai nên thận trọng và cách ăn đậu phụ an toàn, chuẩn khoa học

Dù đậu phụ mang lại nhiều giá trị, không phải người bệnh thận nào cũng có thể sử dụng một cách thoải mái. Bệnh nhân suy thận giai đoạn tiến triển (giai đoạn 4, 5) hoặc những người đang gặp biến chứng tăng kali máu, tăng phospho máu cần phải hết sức cẩn trọng. Các chế phẩm từ đậu vẫn chứa một lượng khoáng chất nhất định; nếu chức năng bài tiết của thận đã suy giảm nghiêm trọng, việc dung nạp quá mức có thể gây ứ đọng điện giải nguy hiểm.

Để bổ sung đậu phụ một cách an toàn và khoa học trong giai đoạn sớm, người bệnh nên tuân thủ các nguyên tắc sau:

  • Kiểm soát lượng dùng vừa phải: Người bệnh nên sử dụng đậu phụ để thay thế một phần lượng thịt đỏ hoặc trứng trong ngày, thay vì ăn cộng dồn thêm. Khẩu phần protein tổng thể vẫn cần tuân thủ đúng mức giới hạn mà bác sĩ chuyên khoa hoặc chuyên gia dinh dưỡng đã phân bổ.
  • Ưu tiên chế biến thanh đạm: Nên chọn các món đậu phụ luộc, hấp, nấu canh cùng rau củ thanh nhạt. Tuyệt đối tránh các cách chế biến chiên xào nhiều dầu mỡ, rán giòn ngập dầu hoặc sốt cà chua nêm nếm nhiều muối, nước mắm, bột ngọt.
  • Tránh xa các sản phẩm lên men và đóng hộp: Đậu phụ thối, chao lên men hay các loại đậu phụ đóng hộp thường chứa lượng muối natri cực kỳ cao, gây giữ nước và làm bùng phát cơn tăng huyết áp.
  • Không kết hợp tùy tiện: Khi ăn đậu phụ, cần tính toán lượng phospho và kali tổng thể trong bữa ăn, tránh kết hợp cùng lúc với các loại thực phẩm quá giàu kali nếu người bệnh đang có xu hướng tăng kali máu.

Lời khuyên giúp bảo tồn chức năng thận

Đậu phụ là nguồn đạm thực vật chất lượng cao hoàn toàn phù hợp và có lợi cho người bệnh suy thận mạn giai đoạn sớm nếu được sử dụng đúng chừng mực. Việc thay thế một phần đạm động vật bằng đạm đậu nành không chỉ giúp giảm áp lực cầu thận, cải thiện protein niệu mà còn hỗ trợ kiểm soát các yếu tố tim mạch đi kèm.

Thay vì lo lắng và kiêng khem cực đoan dẫn tới suy kiệt, người bệnh nên chủ động tham khảo ý kiến của bác sĩ điều trị hoặc chuyên gia dinh dưỡng để thiết kế khẩu phần ăn cân bằng, cá nhân hóa theo từng giai đoạn bệnh.