Trong nhịp sống bận rộn, nhiều thai phụ thường chọn đồ ăn nhanh, nước ngọt, xúc xích hay sốt đóng chai vì tính tiện lợi và hương vị bắt miệng. Câu hỏi đặt ra là việc tiêu thụ quá nhiều nhóm thực phẩm này có thực sự gây hại cho cân nặng sơ sinh và quá trình chuyển hóa của em bé hay không.
Câu trả lời ngắn gọn từ các dữ liệu khoa học là: Có ảnh hưởng, nhưng tác động rõ rệt nhất nằm ở việc làm tăng tỷ lệ mỡ cơ thể trẻ sơ sinh và gây rối loạn chuyển hóa, tăng cân quá mức ở người mẹ hơn là làm thay đổi trực tiếp cân nặng chuẩn lúc chào đời [1][2][3]. Chế độ ăn nhiều thực phẩm siêu chế biến làm suy giảm chất lượng dinh dưỡng toàn diện của thai kỳ, từ đó gián tiếp đe dọa sức khỏe của cả mẹ và bé [4][5].
Thực phẩm siêu chế biến tác động thế nào đến cơ thể mẹ và thai nhi?
Theo hệ thống phân loại thực phẩm NOVA, thực phẩm siêu chế biến (UPF) là các sản phẩm được công thức hóa từ các chất chiết xuất từ thực phẩm hoặc tổng hợp từ các thành phần thực phẩm [1]. Chúng là tập hợp các chất được thiết kế để tạo ra sản phẩm ăn liền có độ bền cao, tiện lợi và rất ngon miệng [3]. Các mặt hàng phổ biến bao gồm nước ngọt, các loại sốt công nghiệp và sản phẩm thịt chế biến sẵn [6].
Trong thai kỳ, cơ thể người mẹ diễn ra những thay đổi lớn về sinh lý và chuyển hóa nhằm hỗ trợ sự tăng trưởng và phát triển của bào thai [2]. Khi thai phụ tiêu thụ nhiều thực phẩm siêu chế biến, chế độ ăn sẽ nạp vào lượng lớn calo rỗng, đường bổ sung, muối (natri) và chất béo bão hòa [4][6]. Ngược lại, cơ thể bị thiếu hụt chất xơ, vitamin, vi chất dinh dưỡng, đạm tổng số, rau củ, trái cây và ngũ cốc nguyên hạt [4][6].
Sự mất cân bằng này dẫn đến mật độ dinh dưỡng thấp [5]. Hệ quả là cơ thể mẹ dễ rơi vào tình trạng kiểm soát đường huyết kém, xuất hiện các dấu hiệu dinh dưỡng tiêu cực, tăng các chỉ số viêm trong máu và tăng cân thai kỳ vượt mức khuyến nghị [1][5]. Những rối loạn chuyển hóa và tình trạng viêm từ cơ thể mẹ tạo ra môi trường bất lợi cho sự phát triển mô mỡ và quá trình tăng trưởng của thai nhi [3][5].
Nghiên cứu nói gì về cân nặng sơ sinh và tích mỡ của trẻ?
Nhiều nghiên cứu đã đi sâu phân tích mối liên hệ giữa tỷ lệ năng lượng từ thực phẩm siêu chế biến trong khẩu phần của mẹ với các chỉ số hình thái của trẻ sơ sinh.
Một nghiên cứu dọc công bố năm 2017 thực hiện trong giai đoạn 2013-2014 tại Trung tâm Sức khỏe Phụ nữ và Phòng khám Sản phụ khoa ở St. Louis, bang Missouri (Mỹ) đã theo dõi 45 cặp mẹ và trẻ sơ sinh [3]. Các thai phụ có mức cân nặng bình thường hoặc béo phì được đánh giá chế độ ăn qua bảng câu hỏi tần suất thực phẩm trong một tháng [3]. Kết quả cho thấy trung bình có 54,4 ± 13,2% tổng năng lượng đầu vào của các bà mẹ đến từ thực phẩm siêu chế biến [3]. Phân tích hồi quy chỉ ra rằng cứ tăng 1 điểm phần trăm năng lượng từ thực phẩm siêu chế biến, thai phụ tăng thêm 1,33 kg cân nặng thai kỳ [3]. Đối với trẻ sơ sinh, mỗi 1 điểm phần trăm tăng thêm này làm tăng 0,22 mm độ dày nếp gấp da đùi, tăng 0,14 mm nếp gấp da dưới xương bả vai và làm tăng 0,62 điểm phần trăm tổng lượng mỡ toàn cơ thể trẻ sơ sinh [3]. Nghiên cứu kết luận tỷ lệ năng lượng từ thực phẩm siêu chế biến có khả năng dự đoán sự gia tăng mỡ cơ thể trẻ sơ sinh tốt hơn cả chỉ số ăn uống lành mạnh HEI-2010, tổng năng lượng hay tổng lượng chất béo tiêu thụ [3].
Tuy nhiên, khi xét về chỉ số tăng trưởng cân nặng thông thường, một nghiên cứu dọc khác tại Mỹ công bố năm 2022 lại cho góc nhìn thận trọng hơn [1]. Nghiên cứu tuyển chọn 458 bà mẹ từ khi thai kỳ nhỏ hơn hoặc bằng 12 tuần và giữ lại được 321 người ở thời điểm một năm sau sinh [1]. Các bà mẹ hoàn thành nhiều bảng ghi nhớ thực phẩm 24 giờ và được lấy máu xét nghiệm ở tam cá nguyệt thứ hai và thứ ba; trẻ được đo nhân trắc lúc mới sinh, lúc 2 tháng, 6 tháng và 1 tuổi [1]. Kết quả cho thấy khi giữ nguyên tổng năng lượng đầu vào, việc tăng 1 độ lệch chuẩn tỷ lệ năng lượng từ thực phẩm siêu chế biến làm tăng 31% nguy cơ tăng cân quá mức trong thai kỳ, tăng 0,68 ± 0,29 mg/L protein phản ứng C (chỉ số viêm) trong thai kỳ, giữ lại 6,7 ± 3,4% cân nặng thai kỳ nhiều hơn và giữ lại 1,09 ± 0,36 kg cân nặng sau sinh nhiều hơn [1]. Ngoài các chỉ số của mẹ, nghiên cứu không tìm thấy mối liên hệ có ý nghĩa thống kê nào khác đối với sự tăng trưởng nhân trắc của trẻ sơ sinh [1].
Đối với nguy cơ thừa cân dài hạn của trẻ, một nghiên cứu đoàn hệ tương lai công bố năm 2022 tại Mỹ đã phân tích 19.958 cặp mẹ con (45% là bé trai, độ tuổi 7-17 khi bắt đầu tham gia) với thời gian theo dõi trung vị 4 năm [7]. Trong toàn bộ mẫu, có 2.471 trẻ (12,4%) phát triển tình trạng thừa cân hoặc béo phì [7]. Khi xét riêng nhóm phụ gồm 2.925 cặp mẹ con có dữ liệu về chế độ ăn quanh thai kỳ, có 845 trẻ (28,9%) bị thừa cân hoặc béo phì, nhưng mức tiêu thụ thực phẩm siêu chế biến của mẹ quanh thai kỳ không có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê với nguy cơ thừa cân, béo phì của con (nguy cơ tương đối ở nhóm ăn nhiều nhất so với ít nhất là 1,17; khoảng tin cậy 95% từ 0,89 đến 1,53) [7]. Ngược lại, nếu người mẹ ăn nhiều thực phẩm siêu chế biến trong giai đoạn nuôi con, trẻ ở nhóm mẹ ăn nhiều nhất có nguy cơ thừa cân, béo phì cao hơn 26% so với nhóm ăn ít nhất [7].
Bằng chứng tổng hợp về biến chứng chuyển hóa thai kỳ
Không chỉ dừng lại ở các nghiên cứu đơn lẻ, các tổng quan hệ thống quy mô lớn đã làm rõ tác động của nhóm thực phẩm này lên biến chứng chu sinh.
Một tổng quan hệ thống và phân tích gộp công bố năm 2022 đã rà soát dữ liệu từ 5 cơ sở dữ liệu điện tử và tài liệu xám tính đến ngày 31/5/2022 [2]. Nghiên cứu tổng hợp 61 công trình với tổng cộng 698.803 phụ nữ ở tất cả các tam cá nguyệt của thai kỳ [2]. Phân tích gộp các nghiên cứu đoàn hệ chỉ ra rằng chế độ ăn giàu thực phẩm siêu chế biến của người mẹ làm tăng 48% nguy cơ mắc đái tháo đường thai kỳ (tỷ số chênh OR: 1,48) và tăng 28% nguy cơ tiền sản giật (OR: 1,28) [2]. Đáng chú ý, phân tích này cũng ghi nhận không có mối liên hệ trực tiếp nào với các kết cục sơ sinh chung, đồng thời lưu ý chất lượng bằng chứng tổng thể theo thang GRADE là rất thấp [2].
Mới đây hơn, một bài tổng quan toàn diện đánh giá các nghiên cứu trong 5 năm (từ 2019 đến 2024) trên các cơ sở dữ liệu MedLine/PubMed, Scopus và Embase đã chọn lọc 22 nghiên cứu hợp lệ trong số 767 bài báo được tìm thấy [5]. Tổng quan này khẳng định việc tiêu thụ nhiều thực phẩm siêu chế biến khi mang thai có liên hệ thuận với đái tháo đường thai kỳ, tăng cân thai kỳ, kiểm soát đường huyết kém, rối loạn tăng huyết áp thai kỳ và tăng chỉ số viêm [5]. Về phía đứa trẻ, thói quen ăn uống này của mẹ tác động tiêu cực đến sự tăng trưởng và phát triển của trẻ, liên quan đến sự gia tăng tích tụ mỡ, các rối loạn tâm thần tiềm ẩn và các chỉ số dinh dưỡng kém [5].
Ngoài ra, một bài báo năm 2022 cũng trích dẫn một nghiên cứu đoàn hệ trên 259 phụ nữ mang thai người Brazil trong giai đoạn 2012-2014 cho thấy việc tiêu thụ thực phẩm siêu chế biến trong tam cá nguyệt thứ ba có liên quan thuận với mức tăng trung bình 4,17 g mỗi tuần [6]. Tăng cân thai kỳ quá mức từ chế độ ăn này góp phần gây ra kết cục tiêu cực cho thai nhi, làm tăng nguy cơ huyết khối tĩnh mạch, trầm cảm và gây khó khăn cho việc nuôi con bằng sữa mẹ [6].
Suy giảm chất lượng bữa ăn và những hiểu lầm thường gặp
Nhiều thai phụ lầm tưởng rằng chỉ cần uống đủ viên tổng hợp hoặc ăn đủ lượng calo là thai nhi sẽ khỏe mạnh, bất kể nguồn calo đó đến từ đâu. Thực tế, thực phẩm siêu chế biến đánh cắp vị trí của các thực phẩm tự nhiên giàu dưỡng chất.
Một nghiên cứu năm 2022 sử dụng dữ liệu ghi nhớ thực phẩm 24 giờ và thang điểm Chỉ số Ăn uống Lành mạnh 2015 (HEI) đã chứng minh điều này [4]. Trung bình, thực phẩm siêu chế biến chiếm tới 52,6 ± 15,1% tổng năng lượng ăn vào trong thai kỳ và 50,6 ± 16,6% ở giai đoạn sau sinh [4]. Tỷ lệ thực phẩm siêu chế biến có tương quan nghịch với tổng điểm HEI và 8 trên 13 điểm thành phần của chỉ số này [4]. Khi so sánh nhóm tiêu thụ nhiều thực phẩm siêu chế biến nhất (từ 60% năng lượng trở lên) với nhóm tiêu thụ ít nhất (dưới 40% năng lượng), nhóm ăn ít có tổng điểm chất lượng bữa ăn HEI cao hơn tới 17,6 điểm [4]. Những bà mẹ ăn ít đồ siêu chế biến tiêu thụ lượng trái cây, rau củ, hải sản và đạm thực vật nhiều gấp 2 đến 3 lần, tổng lượng đạm nhiều gấp 1,5 lần, trong khi chỉ ăn lượng ngũ cốc tinh chế bằng 2/3 và lượng đường bổ sung bằng 1/2 so với nhóm ăn nhiều [4].
Một hiểu lầm khác là cho rằng em bé sinh ra không bị nhẹ cân nghĩa là bé hoàn toàn khỏe mạnh. Như nghiên cứu năm 2017 đã chỉ ra, dù các phân tích gộp không thấy thay đổi rõ về cân nặng sơ sinh chuẩn, trẻ sinh ra từ mẹ ăn nhiều đồ siêu chế biến lại bị tăng độ dày nếp gấp da và tăng tỷ lệ phần trăm mỡ toàn thân [2][3]. Đồng thời, nếu người mẹ duy trì thói quen ăn đồ siêu chế biến này suốt thời kỳ nuôi con nhỏ, đứa trẻ sẽ đối mặt với nguy cơ thừa cân, béo phì cao hơn 26% khi lớn lên [7].
Ai nên đặc biệt thận trọng với thực phẩm siêu chế biến?
Dù mọi phụ nữ mang thai đều cần hạn chế nhóm thực phẩm này, một số nhóm đối tượng có nguy cơ tiêu thụ nhiều hơn hoặc dễ gặp biến chứng nặng hơn cần đặc biệt lưu ý.
Một nghiên cứu cắt ngang công bố năm 2024 trên 784 phụ nữ mang thai tham gia Hệ thống Y tế Thống nhất (khảo sát qua hai lần ghi nhớ 24 giờ) ghi nhận tỷ lệ năng lượng từ thực phẩm siêu chế biến trong khẩu phần là 32,1% [8]. Phân tích hồi quy tuyến tính chỉ ra rằng chỉ số khối cơ thể (BMI) trước khi mang thai có mối liên hệ thuận trực tiếp với tỷ lệ tiêu thụ thực phẩm siêu chế biến (hệ số 0,41) [8]. Ngược lại, tuổi của người mẹ (hệ số -0,45) và nhóm kinh tế thấp D+E so với nhóm A+B (hệ số -2,95) có mối liên hệ nghịch với tỷ lệ năng lượng từ nhóm thực phẩm này [8]. Điều này cho thấy những thai phụ trẻ tuổi và những người có chỉ số BMI trước mang thai cao thường có xu hướng tiêu thụ nhiều thực phẩm siêu chế biến hơn [8].
Bên cạnh đó, các nghiên cứu đoàn hệ trên phụ nữ mang thai bị béo phì cũng khẳng định việc ăn nhiều thực phẩm siêu chế biến là yếu tố dự báo tình trạng tăng cân quá mức trong thai kỳ [6]. Trong một nghiên cứu đánh giá thai phụ tại tuyến chăm sóc sức khỏe ban đầu, có tới 49% trường hợp tăng cân thai kỳ không phù hợp (quá ít hoặc quá nhiều) [6]. Do thực phẩm siêu chế biến làm tăng 48% nguy cơ đái tháo đường thai kỳ và 28% nguy cơ tiền sản giật, những thai phụ có tiền sử rối loạn đường huyết, tăng huyết áp, thừa cân hoặc béo phì trước khi mang thai cần kiểm soát nghiêm ngặt nhóm thực phẩm này [2][6]. Nếu có bệnh nền hoặc đang dùng thuốc điều trị, thai phụ cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa để có phác đồ dinh dưỡng phù hợp, tuyệt đối không tự ý áp dụng các chế độ ăn kiêng cực đoan.
Cách áp dụng thực tế để có thai kỳ khỏe mạnh
Giảm thực phẩm siêu chế biến là một yếu tố hành vi hoàn toàn có thể thay đổi được để bảo vệ sức khỏe mẹ và bé [1]. Nghiên cứu năm 2022 chỉ ra rằng việc ưu tiên các bữa ăn tự nấu tại nhà có mối liên hệ chặt chẽ với chất lượng chế độ ăn cao hơn nhờ làm giảm lượng thực phẩm siêu chế biến tiêu thụ [6].
Trong thực tế đời sống, thai phụ có thể áp dụng các bước chuyển đổi cụ thể sau:
- Mục tiêu năng lượng: Cố gắng giữ tỷ lệ năng lượng từ thực phẩm siêu chế biến ở mức thấp (dưới 40% tổng năng lượng khẩu phần theo ngưỡng phân nhóm có chất lượng ăn uống tốt trong nghiên cứu), lý tưởng nhất là hạn chế tối đa trong cả 3 tam cá nguyệt và kéo dài suốt giai đoạn sau sinh, nuôi con nhỏ [4][7].
- Cắt giảm các món siêu chế biến điển hình: Hạn chế tối đa việc sử dụng các loại nước ngọt có ga, nước giải khát công nghiệp, các loại sốt pha sẵn đóng chai và các sản phẩm thịt chế biến sẵn (như xúc xích, thịt xông khói, thịt nguội) [6].
- Tăng cường thực phẩm tự nhiên khi nấu ăn tại nhà: Khảo sát thực tế cho thấy dù thai phụ thường ăn đủ ngũ cốc (như gạo), thịt và các loại đậu, nhưng tần suất tiêu thụ rau xanh nhìn chung còn rất thấp [6]. Do đó, khi tự chuẩn bị bữa ăn, mẹ bầu cần chủ động tăng gấp 2-3 lần lượng rau củ, trái cây tươi, hải sản và nguồn đạm thực vật (các loại đậu, hạt), đồng thời giảm một nửa lượng đường bổ sung và giảm ngũ cốc tinh chế [4][6].
Tóm lại, ăn nhiều thực phẩm siêu chế biến khi mang thai không chỉ khiến mẹ tăng cân quá mức, tăng phản ứng viêm và đối mặt với nguy cơ đái tháo đường thai kỳ, tiền sản giật mà còn làm tăng tích tụ mỡ ở trẻ sơ sinh [1][2][3]. Dù các bằng chứng hiện tại vẫn cần thêm các thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên để khẳng định quan hệ nhân quả tuyệt đối, việc giảm đồ ăn công nghiệp và ưu tiên bữa cơm tự nấu tại nhà giàu rau xanh, trái cây là chiến lược an toàn, thiết thực nhất cho cả mẹ và con [1][4][6]. Thai phụ có vấn đề về cân nặng hoặc bệnh lý chuyển hóa nên trao đổi trực tiếp với bác sĩ sản khoa hoặc chuyên gia dinh dưỡng trong các lần khám thai định kỳ để được hướng dẫn cụ thể.




