Ngồi nhiều, ít vận động và nỗi lo thừa năng lượng

Nhịp sống hiện đại khiến phần lớn nhân viên văn phòng phải ngồi yên một chỗ từ 8 đến 10 tiếng mỗi ngày trước màn hình máy tính. Thói quen tĩnh tại này kết hợp cùng các bữa ăn giàu tinh bột như cơm trắng, bún, phở hay bánh mì dễ dẫn đến tình trạng uể oải sau khi ăn và tăng cân mất kiểm soát. Để khắc phục, nhiều người tìm đến chế độ ăn giảm tinh bột (low-carb) như một giải pháp cấp tốc.

Chế độ ăn giảm tinh bột hoặc chọn lọc tinh bột có chỉ số đường huyết thấp là lựa chọn hoàn toàn khả thi và đem lại nhiều lợi ích cho người có lối sống tĩnh tại. Khi cơ thể ít hoạt động, việc cắt giảm lượng đường bột nạp vào giúp ổn định đường huyết, hỗ trợ quản lý cân nặng và cải thiện các chỉ số mỡ máu [1], [2].

Tuy nhiên, áp dụng chế độ này sao cho đúng cách mà không gây mệt mỏi hay thiếu hụt vi chất đòi hỏi sự hiểu biết rõ ràng về cơ chế sinh học cũng như các bằng chứng nghiên cứu thực tế.

Cơ chế tác động của việc giảm tinh bột lên cơ thể tĩnh tại

Ở trạng thái ít vận động, nhu cầu tiêu thụ glycogen trong cơ bắp giảm xuống mức tối thiểu. Nếu tiếp tục nạp vào lượng tinh bột lớn, mức đường huyết sẽ tăng vọt, kích thích bài tiết insulin và tích lũy mỡ thừa.

Khi hạn chế lượng carbohydrate đưa vào, cơ thể sẽ có những biến đổi trao đổi chất và thích ứng hormone rõ rệt [3]. Việc hạn chế tinh bột kích thích quá trình phân giải lipid (lipolysis) và tăng cường oxy hóa chất béo để tạo năng lượng [3]. Trong trạng thái này, các mô mỡ dự trữ, glycogen trong cơ và các axit béo tự do được huy động để làm nhiên liệu cho hoạt động co cơ [3]. Nhờ đó, việc cắt giảm tinh bột góp phần giảm cảm giác thèm ăn và giảm cân nặng hiệu quả [3].

Bên cạnh đó, việc lựa chọn nguồn tinh bột có chỉ số đường huyết thấp (low-GI) còn giúp tăng cảm giác no lâu, từ đó điều hòa sự thèm ăn tốt hơn ở những người thừa cân, béo phì [3].

Các nghiên cứu lâm sàng chứng minh điều gì?

Hiệu quả của việc giảm tinh bột và kiểm soát chỉ số đường huyết đã được ghi nhận qua nhiều thử nghiệm lâm sàng trên các nhóm đối tượng khác nhau.

Nghiên cứu can thiệp năm 2008 so sánh chế độ ăn ketosis rất ít carbohydrate (LCKD) với chế độ ăn chỉ số đường huyết thấp (LGID) trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2 [1]. Kết quả cho thấy chế độ ăn LCKD giúp giảm cân, cải thiện kiểm soát đường huyết, tăng cholesterol HDL mà không làm xấu đi các thông số lipid máu lúc đói [1]. Đáng chú ý, toàn bộ các thành phần của hội chứng chuyển hóa đều được cải thiện nhờ chế độ ăn rất ít carbohydrate này [1]. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc giảm chỉ số đường huyết đơn thuần không kèm giảm cân có thể giúp giảm 0,43% chỉ số HbA1c so với chế độ ăn có cùng lượng carbohydrate nhưng chỉ số đường huyết cao hơn [1].

Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên bắt chéo năm 2011 trên 12 bệnh nhân đái tháo đường típ 2 đánh giá biến động đường huyết mao mạch cấp tính trong 2 ngày [4]. Các đối tượng được chia thành 2 nhóm luân phiên áp dụng thực đơn có chỉ số đường huyết thấp (LGI) và cao (HGI) trong 2 ngày liên tiếp ở 2 tuần liên tiếp [4]. Kết quả ghi nhận lượng carbohydrate nạp vào ở nhóm dùng thực đơn LGI thấp hơn có ý nghĩa thống kê (p < 0.01) [4]. Đường huyết trung bình trong ngày đầu tiên của nhóm ăn chế độ LGI cũng thấp hơn rõ rệt (p < 0.05) [4].

Năm 2012, một nghiên cứu can thiệp tiến hành trên 100 bệnh nhân đái tháo đường kiểm soát kém (độ tuổi trung bình 52,8 ± 4,5 tuổi) đang dùng thuốc uống hoặc insulin [2], [5]. Nhóm tham gia được áp dụng chế độ ăn tải lượng đường huyết thấp (GL từ 67-77, năng lượng 1800-2200 kcal với 41-42% carbohydrate, 36% tổng chất béo trong đó 15% chất béo từ dầu ô liu và các loại hạt, 22% protein) kéo dài 10 tuần [2], [5]. Trong suốt thời gian can thiệp, bệnh nhân vẫn duy trì lối sống thường nhật [2], [5]. Kết quả sau 10 tuần cho thấy nồng độ cholesterol toàn phần giảm từ 205,9 ± 21,6 xuống 182,6 ± 18,2 mg/dL, triglyceride giảm từ 181,5 ± 22,2 xuống 161,6 ± 16,7 mg/dL (p < 0.001) [2]. Chỉ số LDL giảm, HDL tăng lên, HbA1c giảm 12% (tương đương giảm 1,1%, từ 8,85 ± 0,22% xuống 7,81 ± 0,27%) và cân nặng giảm từ 74,0 ± 5 kg xuống 70,7 ± 4,6 kg (p < 0.001) [2], [5]. Đường huyết lúc đói cũng giảm trung bình 28,1 ± 12,5 mg/dL (từ 169 ± 17 xuống 141 ± 12 mg/dL) [5].

Ngoài ra, nghiên cứu hồi cứu năm 2006 tại New Jersey trên 21 bệnh nhân đái tháo đường típ 1 và típ 2 được tư vấn dinh dưỡng sử dụng carbohydrate chỉ số đường huyết thấp [6]. Qua theo dõi từ 3 đến 36 tháng, việc chủ động hạ chỉ số GI trong bữa ăn xuống 25% (giảm trung bình 15 điểm) đã giúp người bệnh giảm 19% chỉ số HbA1c (giảm trung bình 1,5 đơn vị) và giảm 8% chỉ số BMI (tương đương giảm trung bình 17 pound hay khoảng 7,7 kg) [6].

Lợi ích chuyển hóa và giới hạn của các bằng chứng

Tổng hợp các dữ liệu cho thấy, việc áp dụng chế độ ăn giảm tinh bột hoặc giảm tải lượng đường huyết (low-GL) đem lại tác động tích cực đối với các bệnh nhân rối loạn đường huyết và người thừa cân [2], [7]. Bằng chứng xác nhận chế độ ăn này hỗ trợ điều chỉnh mỡ máu bằng cách tăng HDL, giảm triglyceride và giảm cân nặng rõ rệt [1], [2].

Tuy vậy, các bằng chứng hiện có cũng bộc lộ những giới hạn nhất định. Nhiều nghiên cứu được thực hiện trên nhóm đối tượng đặc thù là bệnh nhân đái tháo đường típ 2 hoặc người kiểm soát đường huyết kém [1], [2], [5]. Cỡ mẫu ở một số nghiên cứu còn nhỏ, chẳng hạn như thử nghiệm chéo chỉ gồm 12 người trong 2 ngày [4] hoặc nghiên cứu hồi cứu trên 21 người [6]. Thêm vào đó, thời gian can thiệp trong các nghiên cứu thường kéo dài từ 2 ngày, 10 tuần đến vài tháng [4], [2], [6], do đó cần thêm các theo dõi dài hạn trên diện rộng ở đối tượng người trưởng thành khỏe mạnh ngồi nhiều.

Mối liên hệ giữa áp lực tâm lý, thời gian ngồi tĩnh tại và tinh bột

Những người làm việc văn phòng thường xuyên đối mặt với căng thẳng và thời gian ngồi kéo dài. Đây là yếu tố nguy cơ trực tiếp thúc đẩy hành vi ăn uống mất kiểm soát.

Một nghiên cứu cắt ngang công bố năm 2022 thực hiện trên bệnh nhân đái tháo đường trong giai đoạn dịch COVID-19 tại Nhật Bản đã chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa trạng thái tâm lý và lối sống [8]. Sự gia tăng mức độ căng thẳng tâm lý có mối tương quan thuận với mức tiêu thụ carbohydrate (r = 0.183, p = 0.001), ăn vặt (r = 0.151, p = 0.008) và thời gian ngồi tĩnh tại (r = 0.158, p = 0.004) [8]. Tâm trạng buồn chán, trầm cảm cũng liên quan thuận với việc tiêu thụ carbohydrate (r = 0.142, p = 0.010) [8]. Nghiên cứu cũng xác nhận việc giảm thời gian đi bộ có liên quan tới sự thay đổi trọng lượng cơ thể [8].

Điều này giải thích vì sao những người ngồi một chỗ cả ngày khi gặp căng thẳng thường có xu hướng tìm đến các món ngọt hay đồ ăn vặt giàu tinh bột, tạo nên vòng luẩn quẩn tăng cân và rối loạn chuyển hóa.

Những hiểu lầm thường gặp khi cắt giảm tinh bột

Một sai lầm rất phổ biến là quan niệm "giảm tinh bột nghĩa là nhịn ăn hoặc cắt bỏ hoàn toàn carbohydrate". Trong các can thiệp lâm sàng hiệu quả, tỷ lệ carbohydrate vẫn có thể chiếm khoảng 41-42% tổng năng lượng khẩu phần kết hợp với việc kiểm soát tải lượng đường huyết ở mức vừa phải (GL từ 67-77) chứ không nhất thiết phải triệt tiêu toàn bộ [2], [5].

Nhiều người cũng lầm tưởng rằng chỉ cần cắt giảm tinh bột là có thể bù đắp bằng bất kỳ loại chất béo nào. Tuy nhiên, trong mô hình nghiên cứu mang lại hiệu quả hạ mỡ máu và giảm cân, nguồn chất béo được chú trọng bổ sung từ các nguồn có lợi như dầu ô liu và các loại hạt (chiếm 15% khẩu phần ăn) [2], [5].

Cuối cùng, việc ăn kiêng không thể thay thế hoàn toàn cho lối sống vận động. Lối sống tĩnh tại và thói quen ăn uống là các yếu tố độc lập dẫn đến béo phì, và can thiệp lối sống toàn diện bao gồm cả chế độ ăn kết hợp vận động thể chất mới là liệu pháp hàng đầu mang lại tác động giảm cân tối ưu [7].

Nhóm đối tượng nào cần thận trọng?

Dù đem lại lợi ích trong việc kiểm soát cân nặng và đường huyết, việc thay đổi đột ngột sang chế độ ăn giảm tinh bột nghiêm ngặt không phù hợp với tất cả mọi người.

Những người đang sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường dạng uống hoặc tiêm insulin cần đặc biệt cẩn trọng [2]. Việc giảm đột ngột lượng tinh bột có thể làm hạ đường huyết quá mức nếu liều lượng thuốc không được nhân viên y tế điều chỉnh kịp thời [2], [6].

Người có tiền sử mắc các bệnh lý mạn tính về thận, gan, phụ nữ mang thai hoặc đang cho con bú cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa hoặc chuyên gia dinh dưỡng trước khi thay đổi thực đơn hàng ngày. Bất kỳ sự thay đổi chế độ dinh dưỡng nào cũng không nhằm mục đích thay thế cho phác đồ điều trị y khoa đã được chỉ định.

Gợi ý thực tế cho người ngồi một chỗ cả ngày

Để áp dụng hiệu quả việc giảm tinh bột vào đời sống văn phòng bận rộn, bạn có thể thực hiện theo các bước sau:

  • Giảm tỷ lệ carbohydrate trong bữa ăn: Thay vì ăn các bữa ăn nhiều tinh bột trắng, bạn có thể hạ dần lượng carbohydrate về mức khoảng 40-42% tổng năng lượng hàng ngày như mô hình đã được nghiên cứu [2], [5].
  • Ưu tiên thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp: Chuyển đổi từ các loại tinh bột tinh chế sang thực phẩm giàu chất xơ, các loại đậu hoặc hạt họ đậu như lupin để tăng độ no và làm chậm hấp thu đường [3], [6].
  • Bổ sung chất béo lành mạnh: Tăng cường chất béo tốt từ dầu ô liu và các loại hạt để đảm bảo cung cấp đủ năng lượng cho não bộ hoạt động mà không làm tăng đường huyết đột ngột [2], [5].
  • Hạn chế ăn vặt khi căng thẳng: Nhận biết cảm giác thèm tinh bột xuất phát từ tâm lý mệt mỏi hay căng thẳng do ngồi lâu để chủ động kiểm soát khẩu phần ăn vặt [8].
  • Kết hợp vận động nhẹ: Dù công việc đòi hỏi ngồi nhiều, hãy cố gắng tận dụng thời gian đi lại ngắn giữa giờ làm, bởi việc duy trì thời gian đi bộ đóng vai trò rất quan trọng trong việc kiểm soát cân nặng [8].

Chế độ ăn giảm tinh bột và ưu tiên thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp là một giải pháp hữu ích cho những người có lối sống tĩnh tại nhằm ổn định năng lượng và ngăn ngừa thừa cân [1], [2]. Tuy nhiên, để đạt được sức khỏe tối ưu và bền vững, việc điều chỉnh ăn uống cần đi đôi với nỗ lực tăng cường vận động hàng ngày và tham khảo tư vấn y tế khi có bệnh nền [7].