Nhiều người khi được chẩn đoán mắc túi thừa hoặc viêm túi thừa đại tràng thường truyền tai nhau một kiêng cữ khắt khe: tuyệt đối không ăn các loại hạt ngũ cốc, ngô, bỏng ngô và các loại quả có hạt nhỏ. Nỗi sợ bắt nguồn từ hình dung rằng các mảnh vụn hạt cứng này sẽ rơi vào lòng túi thừa, mắc kẹt lại đó gây trầy xước, nhiễm trùng và bùng phát viêm cấp tính.

Tuy nhiên, các dữ liệu khoa học hiện đại đã làm thay đổi hoàn toàn quan niệm này. Người có túi thừa đại tràng không cần phải kiêng các loại hạt nhỏ hay bỏng ngô, bởi các nghiên cứu quy mô lớn cho thấy các thực phẩm này không hề làm tăng nguy cơ viêm túi thừa hay chảy máu tiêu hóa [1], [2], [3].

Hiểu lầm kinh điển về những túi nhỏ trong lòng đại tràng

Túi thừa đại tràng thực chất là các túi phồng nhỏ hình thành qua những điểm yếu của lớp cơ thành ruột. Tình trạng có túi thừa trong đường ruột được gọi là bệnh túi thừa (diverticulosis) [3]. Phần lớn các trường hợp này không biểu hiện triệu chứng, nhưng một số trường hợp có thể diễn tiến thành các biến chứng nghiêm trọng như viêm túi thừa cấp tính hoặc chảy máu túi thừa [1], [3].

Trong nhiều thập kỷ qua, các bác sĩ và bệnh nhân đều tin rằng những thực phẩm cứng, khó tiêu hóa hoàn toàn như hạt đậu, hạt ổi, hạt dưa, hạt cà chua, ngô hay bỏng ngô sẽ di chuyển dọc theo ống tiêu hóa rồi mắc kẹt trong miệng túi thừa [1], [2]. Lập luận cơ học này nghe rất hợp lý và trực quan, khiến lời khuyên "kiêng hoàn toàn hạt cứng" từng trở thành một chỉ dẫn lâm sàng phổ biến [1], [2]. Dù vậy, theo các chuyên gia, có rất ít bằng chứng sinh học và lâm sàng thực tế để chứng minh cho giả thuyết cơ học này [1].

Bằng chứng khoa học quy mô lớn: Hạt nhỏ không gây viêm túi thừa

Giả định lâu đời về tác hại của các loại hạt đã bị lung lay sau khi các nghiên cứu tiến cứu theo dõi dài hạn được công bố. Đáng chú ý nhất là nghiên cứu theo dõi đoàn hệ các chuyên gia y tế (Health Professionals Follow-up Study) tại Mỹ với 47.228 nam giới trong độ tuổi 40-75 tham gia [1]. Tại thời điểm bắt đầu, những người này hoàn toàn không có bệnh túi thừa hoặc biến chứng, không mắc ung thư hay bệnh viêm ruột [1]. Họ được theo dõi suốt 18 năm từ 1986 đến 2004 thông qua các bảng câu hỏi định kỳ 2 năm một lần về y tế và 4 năm một lần về chế độ ăn uống [1].

Trong suốt 18 năm theo dõi, nhóm nghiên cứu đã ghi nhận 801 trường hợp mắc mới viêm túi thừa và 383 trường hợp chảy máu túi thừa [1]. Kết quả phân tích cho thấy việc tiêu thụ các loại hạt và bỏng ngô không hề làm tăng nguy cơ mắc bệnh [1]. Ngược lại, nghiên cứu còn phát hiện mối liên quan nghịch giữa việc ăn hạt và bỏng ngô với nguy cơ viêm túi thừa [1], [2].

Cụ thể, những người đàn ông ăn các loại hạt nhiều nhất (ít nhất 2 lần mỗi tuần) có nguy cơ viêm túi thừa thấp hơn so với nhóm ăn ít nhất (dưới 1 lần mỗi tháng), với tỷ số nguy cơ đa biến là 0,80 (khoảng tin cậy 95%: 0,63-1,01; xu hướng p = 0,04) [1]. Đối với bỏng ngô, nhóm ăn nhiều nhất giảm nguy cơ viêm túi thừa đáng kể với tỷ số nguy cơ là 0,72 (khoảng tin cậy 95%: 0,56-0,92; xu hướng p = 0,007) [1]. Việc ăn ngô hoàn toàn không liên quan đến nguy cơ viêm túi thừa [1], [2]. Đồng thời, lượng tiêu thụ hạt, ngô hoặc bỏng ngô đều không làm gia tăng nguy cơ chảy máu túi thừa hay gây ra túi thừa không biến chứng [1]. Kết luận này đã làm thay đổi hoàn toàn quan niệm điều trị truyền thống [2].

Không chỉ ở nam giới, bằng chứng trên nữ giới cũng cho kết quả tương đồng. Một nghiên cứu tiến cứu công bố năm 2025 theo dõi 29.916 phụ nữ trong độ tuổi từ 35 đến 74 tại Mỹ và Puerto Rico, những người ban đầu không có tiền sử viêm ruột, ung thư hoặc viêm túi thừa [4]. Qua 415.103 người-năm theo dõi, nghiên cứu ghi nhận 1.531 ca viêm túi thừa mới [4]. Kết quả chỉ ra rằng việc ăn đậu phộng, các loại hạt và hạt nhỏ hoàn toàn không liên quan đến nguy cơ mắc viêm túi thừa mới (tỷ số nguy cơ hiệu chỉnh 1,07; khoảng tin cậy 95%: 0,91-1,25) [4]. Tương tự, việc ăn trái cây tươi có chứa hạt ăn được cũng không làm tăng nguy cơ viêm túi thừa (tỷ số nguy cơ hiệu chỉnh 1,06; khoảng tin cậy 95%: 0,90-1,24) [4].

Tổng hợp bằng chứng: Tiêu thụ hạt ở mức độ vừa phải là an toàn

Để có cái nhìn toàn diện hơn, một tổng quan hệ thống kết hợp năm 2025 đã phân tích 9 nghiên cứu quan sát trên hơn 2 triệu người-năm theo dõi nhằm đánh giá tính an toàn của các loại hạt đối với bệnh túi thừa [3]. Các tác giả ghi nhận rằng lượng hạt tiêu thụ ở mức độ vừa phải mang lại tác động trung tính hoặc có xu hướng bảo vệ nhẹ trước bệnh túi thừa [3].

Phân tích các đoàn hệ ăn hạt không ghi nhận sự gia tăng có ý nghĩa thống kê nào về nguy cơ viêm túi thừa, với tỷ số nguy cơ gộp là 0,89 (khoảng tin cậy 95%: 0,71-1,12) [3]. Mô hình hóa liều lượng - đáp ứng còn cho thấy việc bổ sung thêm một khẩu phần hạt mỗi tuần liên quan đến sự suy giảm tuyến tính 5% nguy cơ mắc bệnh [3]. Khi phân tích độ nhạy kết hợp với chế độ ăn uống lành mạnh, mức giảm nguy cơ còn rõ rệt hơn với tỷ số nguy cơ đạt 0,75 (khoảng tin cậy 95%: 0,58-0,97) [3]. Các kiểm tra độ bền vững số liệu khẳng định kết quả này ổn định và không bị chi phối bởi bất kỳ nghiên cứu đơn lẻ nào [3].

Như vậy, các báo cáo độc lập từ nhiều nghiên cứu đều đồng thuận khẳng định không có mối liên hệ nào giữa việc tiêu thụ hạt, ngô, bỏng ngô với sự xuất hiện của túi thừa hay biến chứng viêm túi thừa cấp tính [5].

Bức tranh toàn cảnh: Toàn bộ chế độ ăn quan trọng hơn từng loại hạt riêng lẻ

Các chuyên gia dinh dưỡng và tiêu hóa nhấn mạnh rằng thay vì quá lo lắng hay kiêng khem cứng nhắc từng loại thực phẩm riêng lẻ như hạt hay ngô, người bệnh cần chú ý đến cấu trúc của toàn bộ chế độ ăn hàng ngày [2].

Một nghiên cứu theo dõi chế độ ăn của nam giới suốt 26 năm cho thấy chế độ ăn kiểu phương Tây (tiêu thụ nhiều thịt đỏ, thịt chế biến sẵn, ngũ cốc tinh chế, đồ ngọt, khoai tây chiên và sản phẩm từ sữa béo) liên quan trực tiếp đến sự gia tăng nguy cơ viêm túi thừa [2]. Ngược lại, chế độ ăn lành mạnh và thận trọng (chú trọng hoa quả, rau xanh, ngũ cốc nguyên hạt, các loại đậu, thịt gia cầm và cá) giúp giảm nguy cơ đáng kể [2].

Thịt đỏ nói riêng là yếu tố được ghi nhận làm tăng nhẹ nguy cơ viêm túi thừa cấp, đặc biệt là khi ăn thịt đỏ chưa qua chế biến như thịt bò, cừu hoặc thịt lợn dưới dạng món chính, bít tết kẹp bánh mì [5]. Ngược lại, việc ăn gia cầm (thịt trắng) không làm tăng nguy cơ viêm túi thừa [5].

Nghiên cứu trên phụ nữ năm 2025 cũng cho thấy việc tuân thủ các chế độ ăn uống lành mạnh giúp giảm mạnh nguy cơ viêm túi thừa cấp [4]. Cụ thể, nhóm phụ nữ tuân thủ tốt nhất chế độ ăn DASH (chế độ ăn ngăn ngừa tăng huyết áp) giảm nguy cơ viêm túi thừa tới 23% (tỷ số nguy cơ hiệu chỉnh 0,77; khoảng tin cậy 95%: 0,65-0,90) [4]. Chế độ ăn theo Chỉ số Ăn uống Lành mạnh (HEI) giúp giảm 22% nguy cơ (tỷ số nguy cơ 0,78; khoảng tin cậy 95%: 0,66-0,91) và chỉ số AHEI giảm 19% nguy cơ (tỷ số nguy cơ 0,81; khoảng tin cậy 95%: 0,69-0,95) [4].

Bên cạnh đó, vai trò của chất xơ trong bệnh túi thừa đã được làm rõ qua nhiều công trình. Chế độ ăn ít chất xơ từ lâu đã được coi là yếu tố môi trường hàng đầu thúc đẩy bệnh túi thừa phát triển [6]. Các nghiên cứu kinh điển của Burkitt nhận thấy người tiêu thụ ít chất xơ có thời gian vận chuyển phân qua đại tràng kéo dài (80 giờ so với 34 giờ ở người ăn nhiều xơ) và khối lượng phân thấp hơn nhiều (110 g/ngày so với 450 g/ngày) [6]. Tình trạng này khiến áp lực trong lòng đại tràng gia tăng, thúc đẩy hình thành túi thừa [6]. Theo dõi 47.888 nam giới tại Mỹ trong 4 năm ghi nhận lượng chất xơ tiêu thụ có mối liên hệ nghịch với sự phát triển bệnh túi thừa, giảm nguy cơ đáng kể (tỷ số nguy cơ 0,58; khoảng tin cậy: 0,41-0,83; p = 0,01) [6]. Một nghiên cứu khác trên 47.033 nam nữ tại Anh cho thấy người ăn chay giảm 30% nguy cơ mắc bệnh túi thừa (tỷ số nguy cơ 0,7; khoảng tin cậy: 0,56-0,87), và nhóm tiêu thụ lượng chất xơ cao nhất giảm tới 41% nguy cơ (tỷ số nguy cơ 0,59; khoảng tin cậy: 0,46-0,78) [6]. Trên 50.019 phụ nữ thuộc Nghiên cứu Sức khỏe Y tá, lượng chất xơ dồi dào từ các nguồn khác nhau cũng liên quan đến việc giảm nguy cơ viêm túi thừa [6].

Giới hạn của bằng chứng và những điều cần lưu ý

Mặc dù bằng chứng đã rõ ràng rằng hạt nhỏ và bỏng ngô an toàn đối với người có túi thừa, người bệnh vẫn cần hiểu đúng phạm vi của các kết luận khoa học này để áp dụng phù hợp.

Thứ nhất, phần lớn các dữ liệu nghiên cứu tập trung vào việc ngăn ngừa đợt viêm túi thừa cấp đầu tiên, trong khi dữ liệu về nguy cơ chảy máu túi thừa còn khá hạn chế [2]. Chế độ ăn giàu chất xơ có thể hữu ích trong việc ngăn chặn đợt viêm túi thừa nguyên phát, nhưng hiệu quả đối với biến chứng chảy máu vẫn chưa hoàn toàn chắc chắn [2].

Thứ hai, các biện pháp bảo vệ giúp phòng ngừa đợt viêm túi thừa đầu tiên chưa chắc đã mang lại hiệu quả tương đương trong việc ngăn ngừa viêm túi thừa tái phát [2]. Theo các hướng dẫn từ Hiệp hội Phẫu thuật Đại trực tràng Châu Âu, chế độ ăn giàu chất xơ rất đáng khuyến nghị cho sức khỏe chung, nhưng có rất ít bằng chứng cho thấy nó giúp ngăn chặn các đợt viêm tái phát [2]. Đồng thời, chất xơ cũng không giúp làm tiêu biến những túi thừa đã hình thành trong thành ruột [5].

Thứ ba, các nghiên cứu đoàn hệ lớn như nghiên cứu năm 2025 ở phụ nữ vẫn có những hạn chế nội tại của nghiên cứu quan sát, bao gồm nguy cơ sai số đo lường, sai số lựa chọn và các yếu tố gây nhiễu tiềm ẩn [4]. Do đó, người bệnh không nên xem các thực phẩm này như một liệu pháp chữa bệnh.

Ai nên thận trọng?

Mặc dù hạt nhỏ không làm viêm túi thừa, việc bổ sung thực phẩm này vẫn đòi hỏi sự cẩn trọng ở một số đối tượng cụ thể:

  • Người đang trong đợt viêm túi thừa cấp tính: Khi ruột đang có ổ viêm loét, sưng đỏ hoặc đau bụng cấp kèm sốt, đường ruột cần được nghỉ ngơi. Người bệnh tuyệt đối không tự ý bổ sung các loại hạt cứng, nhiều xơ thô mà phải tuân thủ phác đồ điều trị và hướng dẫn dinh dưỡng từ bác sĩ chuyên khoa.
  • Người có cơ địa dị ứng: Các loại hạt cây và đậu phộng có thể gây phản ứng dị ứng nghiêm trọng ở những người có cơ địa mẫn cảm.
  • Người gặp khó khăn trong việc nhai nuốt: Người cao tuổi, người có răng yếu nếu không nhai nát các loại hạt cứng có thể bị nghẹn hoặc gây khó chịu cho dạ dày.
  • Người có thói quen uống quá nhiều rượu: Nghiên cứu cho thấy mức tiêu thụ rượu cao có liên quan nhẹ đến sự xuất hiện của túi thừa [5]. Do đó, bên cạnh lưu ý về thức ăn thô, người bệnh cần hạn chế đồ uống có cồn.

Gợi ý áp dụng thực tế trong sinh hoạt hàng ngày

Dựa trên các bằng chứng khoa học cập nhật, người bệnh có thể xây dựng lại chế độ sinh hoạt và ăn uống một cách thoải mái, khoa học hơn mà không cần kiêng khem quá mức:

  • Không cần loại bỏ các loại hạt: Người có túi thừa đại tràng hoàn toàn có thể thưởng thức đậu phộng, hạt điều, hạnh nhân, quả óc chó, hạt bí, hạt vừng, ngô, bỏng ngô và các loại quả nhiều hạt nhỏ như ổi, cà chua, dưa chuột nếu cơ thể dung nạp tốt [1], [4].
  • Ưu tiên chế biến dễ tiêu hóa: Để hệ tiêu hóa làm việc nhẹ nhàng, nên nhai kỹ thức ăn, có thể chọn các loại hạt đã được rang chín, nghiền mịn hoặc sử dụng dạng bơ hạt nguyên chất.
  • Chuyển hướng sang chế độ ăn lành mạnh tổng thể: Hướng tới mô hình ăn uống giàu chất xơ tự nhiên với nhiều ngũ cốc nguyên cám, đậu đỗ, rau củ quả tươi [2], [6]. Áp dụng các nguyên tắc dinh dưỡng tương tự chế độ ăn DASH [4].
  • Giảm bớt thịt đỏ: Thay vì ăn nhiều thịt bò, cừu hay thịt lợn dạng tảng, nên thay thế bằng các nguồn đạm nhẹ nhàng hơn như cá và thịt gia cầm [5].
  • Uống đủ nước và tăng lượng xơ từ từ: Để chất xơ phát huy tác dụng làm tăng khối lượng phân và rút ngắn thời gian phân lưu lại trong ruột [6], cần đảm bảo uống đủ nước mỗi ngày. Nếu trước đây ít ăn chất xơ, hãy tăng dần dần để hệ tiêu hóa kịp thích nghi.

Quan niệm người mắc túi thừa đại tràng phải kiêng hoàn toàn các loại hạt nhỏ hay bỏng ngô đã hoàn toàn lỗi thời trước các bằng chứng y khoa hiện đại. Thay vì lo lắng về những mẩu hạt vụn, việc duy trì một chế độ ăn uống cân bằng, giàu thực vật, giảm thịt đỏ và bổ sung đủ chất xơ mới là chìa khóa để bảo vệ sức khỏe đường tiêu hóa. Khi có triệu chứng đau bụng bất thường hoặc có bệnh nền phức tạp, người bệnh nên chủ động tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa để được thăm khám và tư vấn cụ thể.