Nỗi lo dậy thì sớm từ những miếng đậu phụ quen thuộc

Đậu phụ và các món ăn chế biến từ đậu nành là thực phẩm vô cùng quen thuộc trong mâm cơm của nhiều gia đình Việt Nam. Với hương vị thanh đạm, giàu đạm thực vật và dễ chế biến, đậu phụ thường được các bậc phụ huynh lựa chọn cho con nhỏ trong các bữa ăn hàng ngày.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, không ít cha mẹ cảm thấy hoang mang trước thông tin cho rằng trẻ ăn nhiều đậu nành có thể bị dậy thì sớm. Nỗi lo này xuất phát từ việc đậu nành chứa phytoestrogen, một hợp chất thực vật có cấu trúc tương tự như hormone estrogen của nữ giới. Nhiều phụ huynh vì thế đã loại bỏ hoàn toàn đậu phụ ra khỏi thực đơn của trẻ.

Thực tế, dinh dưỡng từ những năm đầu đời đóng vai trò điều hòa quan trọng đối với sự tăng trưởng và quá trình phát triển dậy thì của trẻ em [1]. Vậy việc cho trẻ ăn đậu phụ thường xuyên có thực sự là tác nhân kích hoạt dậy thì sớm hay không?

Ăn đậu phụ có thực sự gây dậy thì sớm?

Câu trả lời ngắn gọn dựa trên các bằng chứng khoa học hiện tại là: Chưa có bằng chứng dịch tễ thuyết phục nào cho thấy việc ăn đậu phụ thông thường gây ra dậy thì sớm ở trẻ em.

Ngược lại, một nghiên cứu theo dõi tiến cứu quy mô lớn cho thấy tiêu thụ đậu nành ở mức độ phù hợp thậm chí còn liên quan đến việc thời điểm dậy thì bắt đầu muộn hơn ở cả bé trai và bé gái [2]. Các nhà khoa học ghi nhận rằng các hợp chất isoflavone trong đậu nành không hoạt động đơn giản như hormone estrogen nội sinh trong cơ thể.

Mặc dù một số nghiên cứu bệnh chứng ghi nhận nồng độ isoflavone huyết thanh cao hơn ở nhóm trẻ dậy thì sớm, mối liên hệ nhân quả trực tiếp từ việc ăn thực phẩm từ đậu nành vẫn chưa được xác lập rõ ràng [3]. Các chuyên gia quốc tế nhận định rằng các bằng chứng xung quanh tác động của đậu nành và isoflavone lên thời điểm dậy thì hiện vẫn còn những ý kiến trái chiều và cần được nghiên cứu sâu hơn [1].

Phytoestrogen và cơ chế tác động lên nội tiết

Để hiểu rõ vấn đề, cần làm quen với khái niệm phytoestrogen, chủ yếu là nhóm isoflavone (bao gồm genistein và daidzein) có nhiều trong đậu nành. Các hợp chất này có cấu trúc tương tự estrogen sinh học, có khả năng gắn vào các thụ thể estrogen (ER) trong cơ thể [4].

Tuy nhiên, ái lực liên kết của phytoestrogen với thụ thể estrogen yếu hơn rất nhiều so với estrogen nội sinh do buồng trứng tiết ra. Tùy thuộc vào liều lượng và môi trường nội tiết trong cơ thể, isoflavone có thể thể hiện tác dụng giống estrogen hoặc đối kháng estrogen [4]. Khi nồng độ estrogen nội sinh thấp hoặc cao, isoflavone có thể cạnh tranh vị trí gắn trên thụ thể, từ đó ngăn cản hoạt động quá mức của hormone sinh dục tự nhiên.

Ngoài ra, quá trình chuyển hóa isoflavone tại đường ruột còn tạo ra equol, một chất chuyển hóa có hoạt tính sinh học [2]. Hệ vi sinh vật đường ruột đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi này, tạo nên những phản ứng khác nhau giữa từng cá thể [1], [2].

Bằng chứng từ các nghiên cứu dịch tễ trên trẻ em

Các nghiên cứu dịch tễ học theo dõi trên người là nguồn dữ liệu quan trọng nhất để đánh giá tác động thực tế của chế độ ăn lên thời điểm dậy thì. Một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu công bố năm 2022 thuộc Nghiên cứu Đoàn hệ Vị thành niên Trung Quốc đã theo dõi 4.781 trẻ em (gồm 2.152 bé gái và 2.629 bé trai) trong độ tuổi từ 6 đến 8 tuổi [2].

Các nhà nghiên cứu đã đánh giá chế độ ăn qua bảng hỏi tần suất thực phẩm và theo dõi hàng năm các chỉ số phát triển như giai đoạn Tanner 2 của tuyến vú (B2), phát triển tuyến sinh dục ở bé trai (G2), tuổi có kinh nguyệt lần đầu (M) và tuổi vỡ giọng (VB) [2]. Phân tích mẫu nước tiểu của 1.311 trẻ cũng được tiến hành để xác định mức bài tiết equol [2].

Kết quả nghiên cứu này cho thấy lượng tiêu thụ đậu nành cao hơn có liên quan đến việc bắt đầu dậy thì muộn hơn ở cả bé gái và bé trai, độc lập với lượng mỡ cơ thể trước dậy thì và lượng chất xơ nạp vào [2]. Cụ thể, tỷ số nguy cơ (Hazard Ratio - HR) đối với mốc phát triển tuyến vú B2 là 0,88 (khoảng tin cậy 95%: 0,80-0,96, p=0,02); mốc kinh nguyệt lần đầu HR là 0,87 (95% CI: 0,77-0,94, p=0,01); mốc phát triển tuyến sinh dục nam G2 HR là 0,91 (95% CI: 0,82-0,98, p=0,013); và mốc vỡ giọng VB HR là 0,90 (95% CI: 0,82-0,9, p=0,02) [2]. Mối liên quan làm chậm thời điểm dậy thì này càng rõ nét hơn ở những trẻ có mức bài tiết equol qua nước tiểu cao hoặc khẩu phần giàu chất xơ từ ngũ cốc [2].

Ở phương Tây, Nghiên cứu Dọc Avon về Cha mẹ và Con cái (ALSPAC) tại Anh công bố năm 2013 đã theo dõi 2.920 trẻ em gái da trắng sinh đủ tháng để tìm hiểu ảnh hưởng của việc nuôi con bằng sữa đậu nành giai đoạn sớm [5]. Kết quả cho thấy khoảng 2% người mẹ cho trẻ dùng sản phẩm từ đậu nành từ 4 tháng tuổi trở xuống [5]. Độ tuổi có kinh nguyệt trung vị ở nhóm dùng đậu nành sớm là 149 tháng (khoảng 12,4 tuổi), so với 153 tháng (khoảng 12,8 tuổi) ở toàn bộ mẫu nghiên cứu [5]. So với các bé gái dùng sữa công thức không từ đậu nành, nhóm dùng đậu nành sớm có tỷ số nguy cơ có kinh nguyệt là 1,25 (khoảng tin cậy 95%: 0,92-1,71), tuy nhiên khoảng tin cậy này bao hàm giá trị 1 nên chưa đạt ý nghĩa thống kê [5]. Nghiên cứu ALSPAC bị giới hạn bởi số lượng trẻ tiếp xúc với đậu nành quá ít và không được thiết kế để kiểm tra cơ chế sinh học [5].

Tại Hàn Quốc, hai nghiên cứu bệnh chứng được tổng hợp trong một bài tổng quan hệ thống năm 2021 đã đánh giá nồng độ isoflavone trong máu [3]. Nghiên cứu thứ nhất so sánh 101 bé gái mắc dậy thì sớm trung ương vô căn với 91 trẻ đối chứng bình thường, ghi nhận nồng độ daidzein, genistein và tổng isoflavone huyết thanh ở nhóm dậy thì sớm cao hơn có ý nghĩa thống kê [3]. Nghiên cứu thứ hai trên 150 bé gái dậy thì sớm và 90 trẻ đối chứng cho thấy nồng độ genistein trong huyết tương ở nhóm bệnh cao gấp 2,67 lần so với nhóm bình thường, trong khi daidzein và equol cao hơn lần lượt 1,37 và 1,3 lần nhưng không có khác biệt mang ý nghĩa thống kê [3].

Thử nghiệm trên động vật phản ánh điều gì?

Bên cạnh dữ liệu trên người, các mô hình động vật được sử dụng để khảo sát chi tiết hơn về mặt mô học và liều lượng. Một nghiên cứu năm 2014 trên loài linh trưởng không phải người (khỉ cynomolgus cái) kéo dài khoảng 4,5 năm đã so sánh hai chế độ ăn: nhóm đối chứng dùng protein casein/lactalbumin (n=12) và nhóm dùng protein đậu nành phân lập chứa hàm lượng isoflavone tương đương 120 mg/ngày ở người, tương đương khoảng 4 khẩu phần thực phẩm từ đậu nành (n=17) [4].

Kết quả trên khỉ cho thấy việc tiếp xúc với chế độ ăn giàu đậu nành trong giai đoạn dậy thì không làm thay đổi thời điểm có kinh nguyệt lần đầu, các chỉ số tăng trưởng, tiến trình dậy thì hay nồng độ estradiol và progesterone lưu hành [4]. Về mặt mô tuyến vú, nhóm ăn đậu nành có số lượng đơn vị tiểu thùy kích thước lớn biệt hóa cao hơn và tỷ lệ ống dẫn chưa trưởng thành thấp hơn sau khi có kinh, cho thấy tác động nhẹ theo hướng biệt hóa mô vú trưởng thành hơn mà không làm tăng sinh tế bào biểu mô [4].

Tuy nhiên, các thử nghiệm trên loài gặm nhấm lại ghi nhận những phản ứng phức tạp hơn tùy thuộc vào liều dùng và thời điểm can thiệp. Một nghiên cứu năm 2022 trên chuột cống cái sử dụng genistein liều 10 mg/kg thể trọng (mức tương đương tiếp xúc ở người) tại các giai đoạn sơ sinh, bú mẹ và sau cai sữa [6]. Kết quả cho thấy chỉ có việc tiếp xúc trong giai đoạn bú mẹ mới làm đẩy nhanh thời điểm mở âm đạo, tăng nhẹ bài tiết GnRH tại vùng dưới đồi, tăng thụ thể kisspeptin và tăng nồng độ GnRH, LH, FSH trong máu, trong khi giai đoạn sơ sinh và sau cai sữa không gây ra biến đổi rõ rệt [6].

Một nghiên cứu khác vào năm 2019 trên 108 chuột cống Wistar đực trước dậy thì (30 ngày tuổi) được cho uống hỗn hợp genistein và daidzein trong 6 tuần ở các mức liều thấp và cao [7]. Kết quả cho thấy ở mức liều thấp, nồng độ estrogen tại tinh hoàn tăng lên dẫn đến việc làm chậm thời điểm bắt đầu dậy thì [7]. Ngược lại, ở mức liều cao, môi trường estrogen liên tục trong tinh hoàn đã ngăn cản sự kích thích tiết hormone tuyến yên và ức chế sản sinh testosterone, từ đó triệt tiêu sự khởi phát dậy thì [7].

Đánh giá mặt mạnh và hạn chế của các bằng chứng hiện có

Khi phân tích tổng thể các bằng chứng khoa học, phụ huynh cần nhìn nhận khách quan cả mặt mạnh lẫn điểm hạn chế của các dữ liệu hiện có. Nghiên cứu đoàn hệ tại Trung Quốc có cỡ mẫu rất lớn với 4.781 trẻ và theo dõi tiến cứu dọc theo thời gian, giúp phản ánh sát thực tế dinh dưỡng của trẻ em châu Á [2]. Thiết kế này giảm thiểu được sai số nhớ lại và cho thấy đậu nành trong bữa ăn hàng ngày không kích hoạt dậy thì sớm mà ngược lại còn gắn liền với sự phát triển bình thường hoặc muộn hơn [2].

Ngược lại, các nghiên cứu bệnh chứng tại Hàn Quốc dù tìm thấy mối liên quan giữa nồng độ isoflavone huyết thanh và chứng dậy thì sớm, nhưng thiết kế bệnh chứng vốn có hạn chế cố hữu là không thể xác định được mối quan hệ nhân quả [3]. Nồng độ isoflavone cao trong máu tại một thời điểm có thể chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố chuyển hóa khác nhau chứ không đồng nghĩa với việc tiêu thụ đậu phụ là nguyên nhân gây bệnh [3].

Đối với các nghiên cứu trên động vật gặm nhấm, liều lượng sử dụng và đường hấp thu thường rất khác biệt so với việc trẻ ăn thực phẩm thông thường. Hơn nữa, tốc độ chuyển hóa phytoestrogen ở chuột hoàn toàn không giống với cơ thể người. Dữ liệu trên động vật linh trưởng gần gũi với người hơn cho thấy mức tiêu thụ tương đương 4 phần ăn đậu nành mỗi ngày không làm thay đổi tuổi dậy thì [4]. Do đó, phụ huynh không nên suy diễn từ kết quả thử nghiệm liều cao trên động vật để lo sợ một cách thái quá về các món đậu phụ quen thuộc.

Những hiểu lầm phổ biến và ai nên thận trọng?

Hiểu lầm phổ biến nhất hiện nay là đánh đồng phytoestrogen trong đậu phụ với hormone estrogen tổng hợp hoặc estrogen nội sinh của con người. Phytoestrogen là hợp chất thực vật tự nhiên, tác động yếu và có tính chất điều hòa hai chiều [4]. Ăn một vài bìa đậu phụ trong bữa ăn gia đình không thể tạo ra lượng hormone khổng lồ làm đảo lộn hệ thống nội tiết của trẻ.

Hiểu lầm thứ hai là lo ngại bé trai ăn đậu phụ sẽ bị "nữ hóa" hoặc chậm phát triển giới tính. Nghiên cứu đoàn hệ lớn đã khẳng định tiêu thụ đậu nành không gây rối loạn mà chỉ đi kèm với sự phát triển đồng đều, thậm chí mốc vỡ giọng và phát triển cơ quan sinh dục vẫn diễn ra bình thường theo tiến trình tự nhiên [2].

Dù vậy, vẫn có những trường hợp cần có sự lưu ý và thận trọng. Các nghiên cứu chỉ ra rằng giai đoạn nhũ nhi sơ sinh là "cửa sổ nhạy cảm" đối với hệ nội tiết [1], [6]. Trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi được khuyến cáo nên bú mẹ hoàn toàn vì sữa mẹ có vai trò bảo vệ trước nguy cơ dậy thì sớm thông qua việc điều hòa trục ruột - sữa mẹ [1]. Việc sử dụng sữa công thức từ đậu nành cho trẻ nhũ nhi cần có chỉ định y khoa rõ ràng từ bác sĩ nhi khoa thay vì tự ý áp dụng [1], [5]. Ngoài ra, trẻ có tiền sử dị ứng với đạm đậu nành hoặc có bệnh lý rối loạn nội tiết bẩm sinh cần tham khảo ý kiến chuyên gia y tế trước khi bổ sung nhiều thực phẩm họ đậu.

Hướng dẫn sử dụng đậu phụ an toàn và hợp lý cho trẻ

Để tận dụng giá trị dinh dưỡng của đậu phụ mà không phải băn khoăn về nguy cơ dậy thì sớm, các gia đình có thể áp dụng một số nguyên tắc dinh dưỡng hợp lý:

Về tần suất và lượng dùng: Trẻ nhỏ có thể ăn từ 2 đến 3 bữa đậu phụ mỗi tuần như một nguồn cung cấp protein thực vật thanh đạm bên cạnh thịt, cá, trứng và sữa. Không nên cho trẻ ăn đậu phụ liên tục thay thế hoàn toàn đạm động vật, nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ các vi chất cần thiết cho sự phát triển của xương và cơ bắp.

Về cách chế biến: Nên ưu tiên các phương pháp nấu thanh đạm như đậu phụ luộc, hấp, nấu canh cùng rau củ hoặc sốt cà chua ít dầu mỡ. Hạn chế các món đậu phụ chiên rán ngập dầu ở nhiệt độ cao, đậu phụ tẩm ướp nhiều gia vị cay mặn hoặc các sản phẩm đậu nành chế biến sẵn đóng hộp nhiều chất bảo quản. Việc tiêu thụ quá nhiều dầu mỡ và năng lượng dư thừa có thể dẫn đến béo phì, một yếu tố nguy cơ đã được chứng minh kích hoạt dậy thì sớm [2].

Về cách kết hợp thực phẩm: Sự kết hợp giữa đậu phụ và chế độ ăn giàu chất xơ từ ngũ cốc nguyên hạt đem lại tác động điều hòa rất tốt cho hệ vi sinh đường ruột và sự chuyển hóa isoflavone [2]. Bổ sung đa dạng các loại rau xanh, ngũ cốc và trái cây tươi trong bữa ăn hàng ngày giúp trẻ có một hệ vi sinh khỏe mạnh, tăng khả năng chuyển hóa và hấp thu dưỡng chất một cách tối ưu [1], [2].

Tóm lại, những lo lắng về việc trẻ nhỏ ăn đậu phụ thường xuyên gây dậy thì sớm là thiếu cơ sở khoa học vững chắc từ các nghiên cứu dịch tễ học [2]. Đậu phụ vẫn là một thực phẩm bổ dưỡng, an toàn và kinh tế khi được kết hợp điều độ trong một chế độ ăn uống cân bằng, đa dạng. Cha mẹ hãy xây dựng cho con một lối sống lành mạnh, kết hợp dinh dưỡng tự nhiên và vận động thể chất thường xuyên để trẻ phát triển toàn diện.