Khi trẻ nhỏ bị dị ứng đạm sữa bò hoặc bất dung nạp đường sữa, nhiều bậc phụ huynh tìm đến sữa công thức từ đạm đậu nành như một giải pháp thay thế. Tuy nhiên, không ít cha mẹ lo lắng các hoạt chất thực vật trong đậu nành có thể gây rối loạn nội tiết hoặc làm trẻ dậy thì sớm.
Bằng chứng lâm sàng trên người cho thấy việc trẻ bú sữa công thức đạm đậu nành không làm thay đổi thời điểm dậy thì, không ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng hay khả năng sinh sản về sau [1]. Dù vậy, một số nghiên cứu ghi nhận mối liên hệ nhỏ với triệu chứng kinh nguyệt ở nữ giới khi trưởng thành và ảnh hưởng lên tế bào biểu mô âm đạo giai đoạn nhũ nhi [2]. Do đó, loại sữa này chỉ nên dùng khi có chỉ định y khoa cụ thể thay vì sử dụng đại trà [3].
Vì sao sữa đậu nành gây lo ngại về nội tiết?
Đạm đậu nành đã được sử dụng trong dinh dưỡng trẻ nhỏ ở phương Tây gần 100 năm [4]. Hơn 60 năm qua, các dòng sữa công thức đạm đậu nành hiện đại đã nuôi dưỡng hàng triệu trẻ em trên toàn thế giới [1]. Tại Mỹ, loại sữa này chiếm từ 12% đến khoảng 25% thị phần sữa công thức, và ước tính 20-25% trẻ nhũ nhi từng dùng sữa đậu nành trong năm đầu đời [5].
Thành phần chính của sữa công thức đậu nành gồm đạm đậu nành phân lập (soy protein isolate), siro ngô, dầu thực vật, đường, vitamin và khoáng chất [5]. Nỗi lo ngại của phụ huynh bắt nguồn từ việc đạm đậu nành chứa hàm lượng cao isoflavone [3]. Đây là một dạng phytoestrogen (estrogen thực vật) có khả năng tác động lên các trạng thái phụ thuộc hormone của cơ thể [6].
Trẻ nhũ nhi bú sữa đậu nành tiếp nhận lượng lớn phytoestrogen đúng vào giai đoạn phát triển nhạy cảm, thời điểm mà về mặt lý thuyết có thể để lại tác động lâu dài [6]. Ngoài ra, đạm đậu nành phân lập còn chứa các chất như saponin, chất ức chế protease và axit phytic có thể cản trở tiêu hóa, chức năng tuyến giáp và sinh sản [5]. Những lo ngại về phát triển giới tính, thần kinh, miễn dịch và tuyến giáp phần lớn xuất phát từ các kết quả thí nghiệm trên mô hình động vật và tế bào nuôi cấy [1].
Dữ liệu thực tế về dậy thì sớm và hormone ở bé trai
Để kiểm chứng liệu kết quả trên động vật có xảy ra ở người hay không, một nghiên cứu bệnh chứng lồng ghép công bố năm 2019 đã theo dõi trẻ từ lúc sinh đến 3 tuổi, sau đó khám lâm sàng đánh giá lại ở độ tuổi từ 7,8 đến 10,5 tuổi [7]. Nghiên cứu so sánh 29 trẻ chỉ dùng sữa đậu nành (17 bé trai, tuổi trung vị 8,92) với nhóm đối chứng gồm 60 trẻ không dị ứng đạm sữa bò và không dùng sữa đậu nành (27 bé trai, tuổi trung vị 8,99) [7].
Kết quả khám thể chất trực tiếp cho thấy hai nhóm có chỉ số chiều cao và BMI tương đương nhau (chỉ số z-score chiều cao là -0,17 so với -0,16, p = 0,96; chỉ số z-score BMI là 0,67 so với 0,53, p = 0,56) [7]. Về dấu hiệu dậy thì sớm, tỷ lệ xuất hiện ở nhóm dùng sữa đậu nành là 13,8% (4 trẻ, gồm 3 nam và 1 nữ) và nhóm đối chứng là 13,3% (8 trẻ nữ), sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p = 0,95 [7]. Sau khi hiệu chỉnh theo BMI và dữ liệu gia đình, nghiên cứu kết luận không có mối liên hệ nào giữa việc bú sữa công thức đậu nành lúc nhỏ với các thông số tăng trưởng hay dậy thì [7].
Đối với bé trai, giai đoạn nhũ nhi có một hiện tượng sinh lý gọi là "dậy thì nhỏ" (minipuberty) với sự gia tăng hormone sinh dục. Một nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu công bố năm 2021 đã theo dõi 147 bé trai từ lúc sinh đến 28 tuần tuổi, chia thành 3 nhóm: bú sữa đậu nành hoàn toàn (55 trẻ), bú sữa công thức từ sữa bò (54 trẻ) và bú sữa mẹ (38 trẻ) [8]. Nhóm nghiên cứu đo nồng độ testosterone huyết thanh, hormone LH, chiều dài dương vật khi kéo giãn, khoảng cách hậu môn - sinh dục (AGD) và thể tích tinh hoàn [8].
Ở tất cả các nhóm, nồng độ testosterone trung vị đều đạt ngưỡng tương đương tuổi dậy thì vào lúc 2 tuần tuổi (176 ng/dL) và duy trì đến 12 tuần tuổi [8]. Giữa nhóm bé trai bú sữa đậu nành và nhóm bú sữa bò, không có bất kỳ sự khác biệt nào về quỹ đạo nồng độ hormone hay các số đo giải phẫu cơ quan sinh dục [8]. Khi so với nhóm bú sữa mẹ, bé trai bú sữa đậu nành có tốc độ tăng chiều dài dương vật nhanh hơn (P = 0,004) và tốc độ dài ra ban đầu của khoảng cách hậu môn - sinh dục chậm hơn (P = 0,03), nhưng quỹ đạo hormone vẫn hoàn toàn giống nhau [8]. Điều này chứng tỏ sự phát triển sinh sản sớm ở bé trai không phản ứng với việc phơi nhiễm phytoestrogen từ sữa đậu nành [8].
Theo dõi dài hạn đến tuổi trưởng thành và sức khỏe nữ giới
Không chỉ dừng lại ở tuổi thiếu niên, các nhà khoa học còn đánh giá tác động của sữa đậu nành khi trẻ bước vào tuổi trưởng thành. Một nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu công bố năm 2001 đã khảo sát những người từ 20 đến 34 tuổi (thực hiện từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1999) từng tham gia các nghiên cứu dinh dưỡng có đối chứng tại Đại học Iowa từ năm 1965 đến 1978 [6]. Nhóm nghiên cứu so sánh 248 người từng bú sữa đậu nành với 563 người từng bú sữa công thức từ sữa bò lúc nhỏ [6].
Trên hơn 30 chỉ số đầu ra về sự trưởng thành dậy thì tự báo cáo, tiền sử sinh sản, chiều cao, cân nặng và sức khỏe hiện tại, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê nào giữa hai nhóm ở cả nam và nữ [6]. Tuy nhiên, ở phụ nữ từng bú sữa đậu nành, thời gian hành kinh kéo dài hơn một chút với mức chênh lệch trung bình đã hiệu chỉnh là 0,37 ngày (khoảng tin cậy 95%: 0,06 - 0,68), dù lượng máu kinh không nặng hơn [6]. Nhóm phụ nữ này cũng báo cáo cảm giác khó chịu nhiều hơn trong kỳ kinh nguyệt, với nguy cơ tương đối chưa hiệu chỉnh của tình trạng đau nặng so với không đau hoặc đau nhẹ là 1,77 (khoảng tin cậy 95%: 1,04 - 3,00) [6].
Một tổng quan năm 2019 cũng ghi nhận một số thử nghiệm cho thấy tình trạng estrogen hóa biểu mô âm đạo ở bé gái bú sữa đậu nành trong những tháng đầu đời [2]. Tài liệu này đề cập việc tiêu thụ sữa đậu nành lúc nhỏ có liên quan đến thay đổi tuổi có kinh lần đầu (dù dữ liệu chưa thống nhất), đồng thời có vẻ là yếu tố nguy cơ của u xơ tử cung và lạc nội mạc tử cung [2]. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu khác lại không tìm thấy mối liên hệ nào giữa sữa công thức đậu nành và các thông số phát triển sinh sản [2].
Lợi ích thực sự và giới hạn của bằng chứng khoa học
Sữa công thức đạm đậu nành hiện đại đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn an toàn và nhu cầu dinh dưỡng theo Đạo luật Sữa công thức Trẻ em năm 1980, giúp trẻ đủ tháng khỏe mạnh tăng trưởng và phát triển bình thường [4]. Sản phẩm này có hiệu quả ít nhất 86% khi dùng cho trẻ bị dị ứng đạm sữa bò qua trung gian kháng thể IgE [4].
Tuy nhiên, bức tranh khoa học vẫn còn những khoảng trống cần lưu ý. Chương trình Độc chất học Quốc gia Hoa Kỳ (NTP) duy trì quan điểm rằng chỉ có "mối lo ngại tối thiểu về các tác động bất lợi cho sự phát triển" đối với sữa công thức đậu nành [2]. Trước đó, Trung tâm Đánh giá Rủi ro đối với Sinh sản Con người thuộc NTP (NTP-CERHR) khi rà soát toàn bộ tài liệu trên người và loài gặm nhấm đã nhận định bằng chứng hiện tại chưa đủ để kết luận dứt khoát sữa đậu nành gây độc hay hoàn toàn an toàn ở mức tiêu thụ khuyến nghị đối với mật độ khoáng xương, tiêu hóa, miễn dịch, tuyến giáp, sinh sản, cholesterol, đái tháo đường và nhận thức [5].
Hiểu biết về các tác động muộn của sữa đậu nành trên người vẫn còn hạn chế và chất lượng dữ liệu chưa cao [2]. Đặc biệt, chưa có nghiên cứu nào được đánh giá bao gồm nhóm trẻ có khuynh hướng di truyền mắc các rối loạn phát triển như rối loạn phổ tự kỷ (ASD) [5]. Nhìn chung, vẫn còn ít các nghiên cứu dọc dài hạn hoặc nghiên cứu chuyên biệt theo bệnh lý để đánh giá toàn diện tác động của loại sữa này [5].
Những hiểu lầm phổ biến của phụ huynh
Hiểu lầm thường gặp nhất là cho rằng sữa công thức từ thực vật tốt hơn sữa bò. Thực tế, sữa công thức đạm đậu nành không mang lại bất kỳ lợi thế dinh dưỡng nào vượt trội hơn so với sữa công thức từ đạm sữa bò [3]. Sữa mẹ luôn là lựa chọn tốt nhất cho trẻ nhỏ vì thành phần sữa mẹ tự điều chỉnh phù hợp với nhu cầu riêng của từng bé theo tuổi thai, thời điểm trong ngày, môi trường và giới tính [2].
Hiểu lầm thứ hai là dùng sữa đậu nành để phòng ngừa dị ứng hoặc trị nôn trớ, quấy khóc. Các chuyên gia khẳng định sữa đạm đậu nành không có vai trò trong việc phòng ngừa dị ứng thực phẩm [3]. Loại sữa này cũng không có tác dụng điều trị các triệu chứng tiêu hóa không đặc hiệu ở trẻ nhỏ như chứng khóc dạ đề (infantile colic) hay tình trạng nôn trớ (regurgitation) [3].
Nhóm trẻ nào cần đặc biệt thận trọng?
Không phải trẻ nào cũng có thể sử dụng sữa công thức đạm đậu nành. Dưới đây là những nhóm đối tượng cần tránh hoặc phải có sự giám sát y tế chặt chẽ:
Thứ nhất, tuyệt đối không dùng sữa công thức đạm đậu nành cho trẻ sinh non [3].
Thứ hai, không sử dụng loại sữa này cho trẻ dưới 6 tháng tuổi có tình trạng dị ứng thực phẩm [3].
Thứ ba, trẻ mắc chứng suy giáp bẩm sinh cần đặc biệt lưu ý. Báo cáo của NTP-CERHR ghi nhận 3 nghiên cứu trên trẻ suy giáp bẩm sinh cho thấy việc dùng sữa công thức đậu nành có liên quan đến sự gia tăng nồng độ hormone kích thích tuyến giáp (TSH), làm phức tạp thêm quá trình kiểm soát và điều trị bệnh [5]. Phụ huynh có con mắc bệnh lý tuyến giáp hoặc bệnh nền cần tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi chọn sữa.
Dùng sữa công thức đậu nành thế nào cho đúng?
Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ, Hiệp hội Tiêu hóa, Gan mật và Dinh dưỡng Nhi khoa Châu Âu cùng các cơ quan y tế nhiều nước khuyến cáo chỉ nên sử dụng sữa công thức đạm đậu nành trong những trường hợp có chỉ định rõ ràng [2].
Các chỉ định chính đáng bao gồm: trẻ mắc bệnh galactosemia (rối loạn chuyển hóa đường galactose bẩm sinh), trẻ bất dung nạp đường lactose mức độ nặng, trẻ dị ứng đạm sữa bò thực sự (như dị ứng qua trung gian IgE), hoặc gia đình có nhu cầu tránh hoàn toàn thực phẩm nguồn gốc động vật (ăn chay) [4]. Đối với trẻ bị dị ứng thực phẩm, chỉ nên cân nhắc dùng sữa công thức đạm đậu nành sau khi trẻ được 6 tháng tuổi và đã xác định rõ cơ thể trẻ dung nạp được đạm đậu nành [3].
Tóm lại, sữa công thức đạm đậu nành là một giải pháp thay thế an toàn, đáp ứng đủ nhu cầu tăng trưởng và không gây dậy thì sớm ở trẻ nhỏ [7]. Tuy nhiên, đây là sản phẩm dinh dưỡng có chỉ định y khoa cụ thể, không phải thức uống bổ sung tùy ý để trị nôn trớ hay ngừa dị ứng [3]. Khi trẻ có dấu hiệu bất thường về tiêu hóa hoặc nghi ngờ dị ứng sữa bò, cha mẹ nên đưa con đến gặp bác sĩ nhi khoa để được thăm khám và tư vấn loại sữa phù hợp nhất.
