Nhân sâm từ lâu được xem là món quà bồi bổ sức khỏe quý giá cho người lớn tuổi hoặc người mới ốm dậy. Tuy nhiên, nhiều gia đình có người bị cao huyết áp lại truyền tai nhau rằng uống sâm sẽ làm máu dồn lên não và gây tăng vọt huyết áp. Nỗi lo này khiến không ít người bệnh hoàn toàn tránh xa các sản phẩm từ sâm.
Thực tế, người cao huyết áp không phải kiêng tuyệt đối nhân sâm, nhưng cũng không nên tự ý dùng bừa bãi. Các nghiên cứu khoa học cho thấy nhân sâm có tác động hai chiều (vừa có thể làm tăng nhẹ hoặc giữ ổn định, vừa có thể làm hạ huyết áp) tùy thuộc vào thành phần hoạt chất, cách chế biến, liều lượng và tình trạng bệnh lý nền của người dùng [1]. Tổng hợp dữ liệu lâm sàng ghi nhận nhân sâm nhìn chung có thể làm giảm nhẹ huyết áp từ 0 đến 4% so với giả dược, nhưng chưa đủ bằng chứng để thay thế thuốc điều trị [2].
Cơ chế tác động hai chiều của nhân sâm lên mạch máu
Nhân sâm (Panax ginseng) chứa một hệ thống hoạt chất phức tạp bao gồm saponin triterpenoid (ginsenosides), axit panax, glycoside, sterol và tinh dầu [3]. Chính sự đa dạng của các nhóm chất này tạo nên hiệu ứng hai chiều lên hệ thần kinh và hệ thống mạch máu [1].
Ở chiều hướng làm tăng huyết áp, nhóm hoạt chất glycoside dammarenetriol trong nhân sâm có tác dụng kích thích mạnh hệ thần kinh trung ương, từ đó có khả năng gây tăng huyết áp [1]. Ngược lại, nhóm hoạt chất glycoside dammarenediol lại mang tính chất an thần và giúp hạ huyết áp [1]. Một giả thuyết từng được nêu ra là dùng nhân sâm ở liều thấp có thể gây tăng huyết áp, trong khi dùng liều cao lại thúc đẩy sản sinh oxit nitric (NO) giúp giảm huyết áp [1].
Oxit nitric (NO) được tạo ra bởi một loại enzyme ở lớp lót bên trong mạch máu (gọi là enzyme eNOS), đóng vai trò cơ bản trong việc làm giãn mạch và điều hòa huyết áp toàn thân [4]. Nhiều hợp chất trong sâm, đặc biệt là ginsenoside Rg3 và hợp chất arginine-fructose (Arg-Fru), giúp kích hoạt enzyme này, tăng lượng NO trong máu, đồng thời ức chế men chuyển (ACE) và giảm hoạt tính renin - những yếu tố vốn làm co mạch và gây tăng huyết áp [5]. Ngược lại, ở những người bị tụt huyết áp do mạch máu không co bóp đủ, nhân sâm lại giúp tăng nồng độ endothelin-1 (ET-1 - chất co mạch mạnh do tế bào nội mô sản xuất), qua đó khôi phục sự ổn định của huyết áp [1].
Nghiên cứu trên người nói gì về nhân sâm và huyết áp?
Các thử nghiệm trên người cho thấy tác động của sâm phụ thuộc rất lớn vào đối tượng sử dụng và liều lượng. Một nghiên cứu công bố năm 2005 đã khảo sát tác động của chiết xuất nước hồng sâm Hàn Quốc trên 12 tình nguyện viên nam khỏe mạnh, không hút thuốc [6]. Sau khi uống một liều duy nhất chiết xuất hồng sâm với tỷ lệ 500 mg cho mỗi 50 kg cân nặng, nồng độ khí NO trong hơi thở ra của các tình nguyện viên đã tăng lên [6]. Đi kèm với sự gia tăng NO này là sự sụt giảm đồng thời của cả huyết áp trung bình lẫn nhịp tim [6].
Tuy nhiên, một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng giả dược công bố năm 2016 trên các tình nguyện viên trẻ khỏe mạnh lại cho kết quả trung tính [7]. Người tham gia uống khoảng 946 ml (32 oz) thức uống chứa 800 mg nhân sâm trong vòng 45 phút và được đo điện tâm đồ, huyết áp tại các mốc ban đầu, 1 giờ, 2 giờ, 3,5 giờ và 5,5 giờ [7]. Kết quả cho thấy trong khi nhóm uống nước tăng lực bị tăng huyết áp tâm thu và kéo dài khoảng QTc trên điện tâm đồ sau 2 giờ, nhóm dùng 800 mg nhân sâm không có bất kỳ sự thay đổi đáng kể nào về huyết áp hay thông số điện tâm đồ [7].
Ở nhóm bệnh nhân có bệnh lý đặc thù, một nghiên cứu năm 2012 trên những bệnh nhân chạy thận nhân tạo hay bị tụt huyết áp trong lúc lọc máu đã ghi nhận tác dụng giữ ổn định huyết áp của hồng sâm [1]. Việc dùng hồng sâm Hàn Quốc liều thấp (3,5 g cho mỗi ca lọc máu) đã giúp tăng nồng độ chất co mạch ET-1, kích hoạt hoạt tính renin huyết tương và angiotensin II [1]. Nhờ đó, hồng sâm giúp duy trì sự ổn định huyết áp và phục hồi phản ứng tim mạch khi thể tích máu thay đổi đột ngột, chứ không làm tình trạng tụt huyết áp nặng thêm [1].
Để có cái nhìn tổng thể, một tổng quan hệ thống năm 2006 đã phân tích 34 nghiên cứu (bao gồm cả thử nghiệm có đối chứng ngẫu nhiên và không ngẫu nhiên) đánh giá tác động của nhân sâm lên các yếu tố nguy cơ tim mạch [2]. Phần lớn các nghiên cứu này đều diễn ra trong thời gian ngắn [2]. Kết quả tổng hợp cho thấy nhân sâm có thể làm giảm nhẹ huyết áp từ 0 đến 4% so với giả dược [2]. Ngoài ra, 5 trên 9 nghiên cứu ghi nhận sâm giúp cải thiện từ 7 đến 44% một hoặc nhiều chỉ số mỡ máu, và một số nghiên cứu cho thấy sâm làm giảm đường huyết nhưng kết quả chưa đồng nhất [2].
Bằng chứng từ các nghiên cứu chiết xuất sâm trên động vật
Bên cạnh thử nghiệm trên người, nhiều nghiên cứu trên chuột bị tăng huyết áp tự phát (SHR) đã làm rõ vai trò của cách chế biến sâm đối với hiệu quả hạ áp. Nghiên cứu công bố năm 2012 cho thấy việc dùng chiết xuất nhân sâm giàu hoạt chất protopanaxatriol trên chuột tăng huyết áp giúp kích hoạt enzyme eNOS, tăng sản xuất NO, cải thiện tình trạng dày thành mạch máu và làm giảm huyết áp [4].
Cách thức chế biến làm tăng hàm lượng hoạt chất cụ thể cũng quyết định hiệu quả hạ áp. Một nghiên cứu năm 2015 đã xử lý tinh chất rễ phụ hồng sâm với giấm hồng ở nhiệt độ 80 độ C trong 18 giờ để tạo ra phân đoạn sâm giàu hoạt chất hạ áp (tăng gấp 4 lần hàm lượng Rg3 và gấp 24 lần hàm lượng Arg-Fru) [5]. Chuột tăng huyết áp được chia thành 6 nhóm, uống tinh chất rễ sâm thông thường hoặc phân đoạn sâm giàu hoạt chất ở các mức liều 500 và 1.000 mg/kg cân nặng mỗi ngày trong suốt 8 tuần [5]. Kết quả đo ở các tuần 1, 2, 3, 4, 6 và 8 cho thấy liều 1.000 mg/kg của cả hai loại đều làm giảm huyết áp tâm thu, tăng NO và ức chế men chuyển [5]. Đặc biệt, nhóm dùng phân đoạn sâm giàu Rg3 và Arg-Fru liều 1.000 mg/kg còn giảm đáng kể cả huyết áp tâm trương, cho thấy hiệu quả vượt trội hơn hẳn [5].
Tương tự, một nghiên cứu năm 2016 đã so sánh chiết xuất hồng sâm thông thường và hồng sâm làm giàu Rg3 (tiêm liều 3 mg/kg) trên chuột tăng huyết áp và chuột có huyết áp bình thường [8]. Sau 3 giờ tiêm, chỉ có hồng sâm làm giàu Rg3 mới làm giảm đáng kể cả huyết áp tâm thu và tâm trương ở nhóm chuột bệnh, trong khi hồng sâm thường không tạo ra khác biệt rõ rệt [8]. Đáng chú ý, trên nhóm chuột có huyết áp bình thường, cả hai loại sâm đều không làm thay đổi huyết áp sau 3 giờ, dù vẫn làm tăng sản xuất NO trong huyết tương [8]. Về độ an toàn của chế phẩm sâm qua đường tiêm, nghiên cứu độc tính năm 2015 trên chuột dùng dược châm nhân sâm tan trong nước (liều 0,1 ml, 0,5 ml và 1,0 ml) khẳng định không có ca tử vong hay bất thường nào về xét nghiệm máu, sinh hóa và mô bệnh học [3].
Hiểu lầm thường gặp về nhân sâm và huyết áp
Hiểu lầm phổ biến nhất là cho rằng mọi loại sâm đều gây tăng huyết áp như nhau. Thực tế, phản ứng của mạch máu với nhân sâm rất khác nhau tùy thuộc vào tỷ lệ các nhóm ginsenoside bên trong [1]. Qua quá trình chế biến bằng nhiệt hoặc enzyme, hàm lượng các saponin thứ cấp như Rh1, Rg3, Compound K và hợp chất Arg-Fru sẽ tăng lên [3]. Trong đó, Rg3 và Arg-Fru lại là những chất giúp giãn mạch và hạ huyết áp rõ rệt [5].
Hiểu lầm thứ hai là tin rằng có thể dùng hồng sâm để thay thế hoàn toàn thuốc điều trị cao huyết áp. Dù các nghiên cứu trên động vật và trên 12 người khỏe mạnh cho thấy hồng sâm làm tăng NO và giảm huyết áp [6], nhưng tổng quan 34 nghiên cứu trên người chỉ ra mức giảm huyết áp chỉ dao động từ 0 đến 4% [2]. Giới hạn của các bằng chứng hiện tại là các thử nghiệm hầu hết có thời gian ngắn, thiết kế không đồng nhất nên các nhà khoa học không thể thực hiện phân tích gộp (meta-analysis) [2]. Do đó, giới y học kết luận bằng chứng hiện tại không ủng hộ việc dùng nhân sâm như một phương pháp điều trị chính thức cho các yếu tố nguy cơ tim mạch [2].
Ai nên thận trọng khi sử dụng nhân sâm?
Người đang có huyết áp cao chưa được kiểm soát ổn định cần đặc biệt thận trọng. Nhân sâm có chứa nhóm glycoside dammarenetriol gây hưng phấn hệ thần kinh trung ương, và việc dùng sâm ở liều thấp theo một số báo cáo có thể kích hoạt phản ứng tăng huyết áp [1]. Ngoài ra, phản ứng của các mạch máu khác nhau đối với nhân sâm là không giống nhau cả về mặt định tính lẫn định lượng [1].
Những người đang uống thuốc điều trị tăng huyết áp, thuốc tim mạch, thuốc hạ đường huyết hoặc thuốc hạ mỡ máu cũng không nên tự ý dùng sâm. Nhân sâm có khả năng làm giảm nhẹ huyết áp, giảm đường huyết và thay đổi chỉ số mỡ máu [2], đồng thời tác động lên hệ thống enzyme chuyển hóa và hormone điều hòa huyết áp như renin, angiotensin II [1]. Việc dùng chung không kiểm soát có thể làm thay đổi tác dụng của thuốc điều trị. Người có bệnh nền bắt buộc phải tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị trước khi bổ sung.
Cách áp dụng thực tế cho người có bệnh lý huyết áp
Nếu huyết áp đã được kiểm soát ổn định bằng thuốc và được bác sĩ đồng ý, người bệnh có thể cân nhắc sử dụng các sản phẩm từ sâm đã qua chế biến nhiệt như hồng sâm. Quá trình chế biến giúp gia tăng các hoạt chất có lợi cho sự đàn hồi của mạch máu như ginsenoside Rg3 và Arg-Fru [5].
Khi bắt đầu sử dụng, người bệnh nên theo dõi sát chỉ số huyết áp tại nhà. Trong các thử nghiệm trên người, liều dùng được ghi nhận là khoảng 500 mg chiết xuất nước hồng sâm cho người nặng 50 kg [6], hoặc 800 mg nhân sâm ở người khỏe mạnh mà không gây biến động xấu trên điện tâm đồ [7], hay 3,5 g hồng sâm ở bệnh nhân lọc máu [1]. Tuy nhiên, do mỗi sản phẩm trên thị trường có hàm lượng tinh chất khác nhau, người dùng cần đọc kỹ nhãn sản phẩm và bắt đầu từ lượng nhỏ để thăm dò phản ứng cơ thể.
Tuyệt đối không dùng nhân sâm cùng lúc với các loại nước tăng lực hoặc chất kích thích. Nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh việc uống lượng lớn nước tăng lực làm tăng huyết áp tâm thu thêm hơn 4 mmHg và kéo dài khoảng QTc trên điện tâm đồ thêm hơn 6 ms chỉ sau 2 giờ, gây rủi ro cho tim mạch [7].
Nhìn chung, nhân sâm không phải là "kẻ thù" tuyệt đối của người bệnh cao huyết áp nhờ khả năng kích thích tạo oxit nitric làm giãn mạch của một số hoạt chất trong hồng sâm [6]. Tuy vậy, do đặc tính tác động hai chiều phức tạp và mức độ giảm huyết áp trên lâm sàng chỉ khoảng 0 đến 4%, nhân sâm chỉ nên được xem là thực phẩm hỗ trợ bồi bổ thể trạng [2]. Người bệnh cần duy trì lối sống lành mạnh, tuân thủ đúng phác đồ thuốc của bác sĩ và hỏi ý kiến chuyên gia y tế trước khi dùng sâm để đảm bảo an toàn tim mạch.


