Người bệnh tim mạch, huyết áp cao tại Việt Nam thường truyền tai nhau dùng thêm thảo dược Đông y như thiên hoa phấn (rễ cây qua lâu) hoặc quả, hạt qua lâu để bồi bổ và hỗ trợ điều trị. Tuy nhiên, thói quen kết hợp tự do giữa dược liệu và thuốc Tây y điều trị bệnh mạn tính tiềm ẩn nhiều rủi ro sức khỏe nếu không hiểu rõ đặc tính của từng loại.

Trả lời thẳng thắc mắc của độc giả: Hiện chưa có thử nghiệm lâm sàng trực tiếp nào báo cáo cụ thể tỷ lệ tụt huyết áp quá mức khi kết hợp riêng rẽ thiên hoa phấn với thuốc hạ áp, nhưng nguy cơ tương tác dược lực học và dược động học giữa cây qua lâu và thuốc tim mạch là hoàn toàn có cơ sở khoa học. Chiết xuất từ qua lâu chứa các hoạt chất có tác dụng đối kháng canxi, chống kết tập tiểu cầu và tác động trực tiếp lên hệ tim mạch [1]. Khi dùng chung với thuốc hạ áp hoặc thuốc tim mạch, đặc biệt là nhóm chẹn kênh canxi hay thuốc chống đông, sự cộng hưởng tác dụng hoặc cạnh tranh chuyển hóa qua gan có thể làm thay đổi hiệu quả của thuốc điều trị [2], [1].

Qua lâu và thiên hoa phấn tác động lên hệ tim mạch thế nào?

Trong y học cổ truyền, cây qua lâu (tên khoa học thường gặp là Trichosanthes kirilowii hoặc Trichosanthes rosthornii) được sử dụng ở nhiều bộ phận khác nhau như rễ (thiên hoa phấn), quả chín (qua lâu thực) và hạt (qua lâu nhân) [3], [1]. Một tổng quan khoa học công bố năm 2018 cho biết quả chín của hai loài Trichosanthes kirilowii Maxim. và Trichosanthes rosthornii Harms vốn là vị thuốc cổ truyền thiết yếu dùng trong các chứng đau thắt ngực, suy tim, nhồi máu cơ tim, bệnh tim phổi và một số bệnh thiếu máu não cục bộ [1].

Về mặt cơ chế tác động, các nhà khoa học đã phân lập và xác định được khoảng 162 hợp chất từ hai loài qua lâu này, bao gồm terpenoid, phytosterol, flavonoid, hợp chất chứa nitơ và lignan [1]. Hàng loạt nghiên cứu cho thấy chiết xuất và hoạt chất từ cây qua lâu mang các hoạt tính dược lý tác động thẳng vào hệ tim mạch [1]. Cụ thể, chúng có khả năng bảo vệ cơ tim trước tình trạng thiếu máu cục bộ, bảo vệ tế bào nội mô mạch máu, chống thiếu oxy, chống viêm và chống oxy hóa [1].

Đáng chú ý nhất đối với người đang dùng thuốc hạ áp là chiết xuất qua lâu thể hiện hoạt tính của một chất đối kháng canxi (calcium antagonist) và chống kết tập tiểu cầu [1]. Thuốc đối kháng canxi (hay chẹn kênh canxi) vốn là một nhóm thuốc hạ huyết áp và điều trị đau thắt ngực rất phổ biến trong Tây y. Khi đưa thêm một dược liệu cũng có cơ chế đối kháng canxi vào cơ thể đang dùng thuốc hạ áp, tác dụng giãn mạch, hạ áp hoặc tác động lên nhịp tim có thể bị chồng lấp.

Bên cạnh đó, các thuốc tim mạch rất dễ xảy ra tương tác thuốc thông qua hệ thống enzyme cytochrome P450 (CYP) tại gan [2]. Một nghiên cứu tổng quan năm 2011 chỉ ra rằng các thuốc điều trị tim mạch như thuốc hạ huyết áp, thuốc đối kháng canxi, thuốc chẹn beta, thuốc chống loạn nhịp, thuốc chống đông máu, thuốc kháng kết tập tiểu cầu và thuốc hạ mỡ máu vừa có thể là "nạn nhân" (bị làm tăng độc tính hoặc mất tác dụng), vừa có thể là "thủ phạm" gây tương tác qua hệ enzyme CYP [2].

Nghiên cứu khoa học nói gì về qua lâu và tương tác thuốc tim mạch?

Để hiểu rõ bức tranh bằng chứng, chúng ta cần điểm qua từng nghiên cứu cụ thể về thành phần, tác dụng của họ cây qua lâu cũng như dữ liệu y văn về tương tác giữa thảo dược và thuốc tim mạch.

Một nghiên cứu tổng quan công bố năm 2005 đã khảo sát thực trạng tương tác giữa thảo dược và thuốc điều trị tim mạch bằng cách rà soát cơ sở dữ liệu Medline từ tháng 1/1996 đến tháng 2/2003 [4]. Nhóm nghiên cứu thu thập được 43 báo cáo ca bệnh và 8 thử nghiệm lâm sàng [4]. Kết quả cho thấy việc sử dụng thảo dược ở bệnh nhân đang dùng thuốc tim mạch rất phổ biến và tiềm ẩn vấn đề an toàn nghiêm trọng, trong đó người dùng thuốc chống đông máu có nguy cơ cao nhất [4]. Warfarin là thuốc tim mạch hay gặp tương tác nhất: dùng chung với đan sâm, tỏi, bạch quả, đương quy, đu đủ, kỷ tử, xoài, cỏ cà ri... gây tăng tác dụng chống đông quá mức; ngược lại dùng chung với nhân sâm, trà xanh, đậu nành, cỏ ban Âu (St. John's wort) lại làm giảm hiệu quả chống đông [4]. Ngoài ra, tổng quan năm 2005 này cũng ghi nhận cam thảo dùng cùng thuốc hạ huyết áp gây hạ kali máu; bạch quả dùng cùng thuốc lợi tiểu nhóm thiazide lại gây tăng huyết áp; còn cỏ ban Âu, sâm Siberia và cám lúa mì làm giảm nồng độ thuốc trợ tim digoxin trong máu [4]. Giới hạn của nghiên cứu năm 2005 là dựa nhiều vào báo cáo ca bệnh và chưa có dữ liệu thử nghiệm riêng cho vị thuốc qua lâu [4].

Về tác dụng sinh học của qua lâu trên mạch máu và não bộ, một nghiên cứu thực nghiệm năm 2018 đã đánh giá hiệu quả bảo vệ thần kinh và độ thấm hàng rào máu não của cốm bài thuốc "Qua lâu quế chi" (Trichosanthes kirilowii cassia twig) trên mô hình chuột bị tổn thương thiếu máu não cục bộ - tái tưới máu [5]. Các nhà khoa học gây tắc động mạch não giữa ở chuột và tiến hành tái tưới máu sau 2 giờ, sau đó dùng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao ghép nối khối phổ (HPLC-MS/MS) để phân tích mẫu huyết tương, mô não và dịch não tủy [5]. Kết quả cho thấy các thành phần như paeoniflorin, albiflorin, liquiritin đi qua được hàng rào máu não; ở nhóm bệnh còn phát hiện thêm glycyrrhizin và axit glycyrrhizic trong mô não hoặc dịch não tủy [5]. Bài thuốc giúp giảm khiếm khuyết thần kinh, giảm độ thấm chất nhuộm Evans blue, thu nhỏ ổ nhồi máu và giảm tổn thương mô bệnh học ở chuột [5]. Giới hạn của nghiên cứu này là thực hiện trên động vật (chuột) và dùng bài thuốc phối hợp chứ không phải qua lâu đơn độc [5].

Ngoài tác dụng tim mạch, cây qua lâu còn chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học mạnh trên tế bào. Một nghiên cứu trong phòng thí nghiệm (in vitro) năm 2009 đã phân lập hoạt chất từ chiết xuất Trichosanthes kirilowii bằng sắc ký cột Sephadex G-25, Sep-Pak Plus C18 và HPLC [6]. Các nhà khoa học xác định được hai thành phần kháng u là cucurbitacin D và dihydrocucurbitacin D, trong đó cucurbitacin D thúc đẩy quá trình tự chết tế bào (apoptosis) thông qua caspase-3 và phosphoryl hóa JNK trên dòng tế bào ung thư biểu mô tế bào gan người [6]. Nghiên cứu này dừng ở mức độ tế bào trong ống nghiệm nhưng cho thấy dược liệu chứa những phân tử có độc tính tế bào và hoạt tính sinh học rất mạnh [6].

Chất lượng dược liệu và sự nhầm lẫn giống loài trên thị trường

Một yếu tố quan trọng khiến việc tự ý dùng thiên hoa phấn hay qua lâu cùng thuốc hạ áp trở nên khó lường là sự phức tạp về giống loài và cách chế biến dược liệu. Không phải sản phẩm qua lâu hay thiên hoa phấn nào mua trên thị trường cũng có thành phần giống hệt nhau.

Một nghiên cứu hệ gen lạp thể công bố năm 2021 tại Hàn Quốc đã phát triển 3 chỉ thị phân tử (Tri, TRr và Trtt) với độ dài đoạn gen cụ thể (như chỉ thị Tri dài 640, 512 và 502 bp; TRr mất đoạn 32 bp; Trtt mất đoạn 88 bp) để phân biệt chính xác 4 phân loài trong nhóm Trichosanthes [3]. Khi khảo sát 15 sản phẩm thuốc thương mại làm từ mô thô của cây qua lâu tại Hàn Quốc, kết quả cho thấy sự pha trộn đáng kể: chỉ có 4 sản phẩm là T. kirilowii var. kirilowii, 9 sản phẩm là T. kirilowii var. japonica, 2 sản phẩm là T. rubriflos và không có sản phẩm nào là T. rosthornii [3]. Xét theo bộ phận dùng, toàn bộ sản phẩm từ quả đều là T. kirilowii var. japonica; trong khi các sản phẩm từ rễ (tức thiên hoa phấn) và hạt lại thuộc cả 3 loài khác nhau (4 mẫu rễ và 2 mẫu hạt là T. kirilowii var. japonica; 1 mẫu rễ và 1 mẫu hạt là T. rubriflos; 1 mẫu rễ và 3 mẫu hạt là T. kirilowii var. kirilowii) [3].

Bên cạnh giống loài, độ chín và phương pháp sấy cũng làm thay đổi mạnh nồng độ hoạt chất. Một nghiên cứu năm 2014 dùng phương pháp HPLC để đo hàm lượng hợp chất 3,29-dibenzoyl rarounitriol trong hạt qua lâu (Trichosanthes kirilowii) ở các giai đoạn chưa chín, gần chín và chín hoàn toàn với các cách chế biến khác nhau [7]. Kết quả chỉ ra rằng hạt qua lâu chín hoàn toàn có chất lượng tốt hơn hạt chưa chín, và phương pháp chế biến tốt nhất là sấy ở nhiệt độ 60 độ C, giúp hàm lượng 3,29-dibenzoyl rarounitriol đạt tới 131,63 microgam/mL [7].

Lợi ích và giới hạn của các bằng chứng hiện tại

Nhìn vào các dữ liệu khoa học trên, có thể thấy lợi ích rõ ràng của cây qua lâu là một dược liệu giàu tiềm năng cho hệ tim mạch. Với khoảng 162 hợp chất đã được nhận diện, vị thuốc này sở hữu nhiều cơ chế có lợi như bảo vệ cơ tim khi thiếu máu, bảo vệ nội mô mạch máu, chống kết tập tiểu cầu và đối kháng canxi [1].

Tuy nhiên, giới hạn lớn nhất hiện nay là thiếu các thử nghiệm lâm sàng đối chứng trên người đánh giá trực tiếp sự kết hợp giữa thiên hoa phấn (hoặc quả, hạt qua lâu) với từng nhóm thuốc hạ huyết áp Tây y. Các dữ liệu về qua lâu chủ yếu nằm ở mức độ tổng quan dược lý, thực nghiệm trên chuột hoặc trên tế bào [6], [1], [5]. Trong khi đó, bằng chứng về tương tác thảo dược - thuốc tim mạch dù đã được xác lập qua hàng chục báo cáo ca bệnh và thử nghiệm lâm sàng, lại tập trung nhiều vào các thảo dược phổ biến khác như đan sâm, bạch quả, nhân sâm hay cam thảo [4].

Những hiểu lầm thường gặp khi dùng thảo dược cùng thuốc huyết áp

Hiểu lầm phổ biến nhất của người bệnh là cho rằng "thuốc Nam, thuốc Bắc lành tính, mát gan, chỉ bổ chứ không độc nên uống cùng thuốc Tây lúc nào cũng được". Thực tế, thảo dược là một tổ hợp hàng trăm hóa chất tự nhiên [1]. Khi vào cơ thể, chúng vẫn phải qua gan, thận để chuyển hóa và đào thải giống như thuốc Tây [2].

Hiểu lầm thứ hai là nghĩ rằng dùng thảo dược có tác dụng hỗ trợ tim mạch cùng với thuốc tim mạch thì sẽ "tốt gấp đôi". Dược lý học hiện đại cảnh báo các thuốc tim mạch (như thuốc hạ áp, thuốc đối kháng canxi, thuốc chống đông) có thể bị biến đổi tác dụng qua hệ enzyme CYP450, dẫn đến mất hiệu quả điều trị hoặc gây độc tính nguy hiểm [2]. Hơn nữa, thảo dược mua ngoài thị trường rất dễ bị nhầm lẫn giữa các phân loài khác nhau hoặc biến đổi hàm lượng chất tùy theo nhiệt độ sấy và độ chín [3], [7].

Ai nên thận trọng khi sử dụng thiên hoa phấn và qua lâu?

Nhóm đầu tiên cần đặc biệt thận trọng là bệnh nhân đang sử dụng thuốc chống đông máu hoặc thuốc kháng kết tập tiểu cầu. Nghiên cứu cho thấy người dùng thuốc chống đông có nguy cơ gặp tương tác thảo dược cao nhất [4], trong khi bản thân qua lâu lại có hoạt tính chống kết tập tiểu cầu [1]. Sự kết hợp không kiểm soát có thể làm tăng nguy cơ chảy máu bất thường.

Nhóm thứ hai là người đang dùng thuốc hạ huyết áp, đặc biệt là thuốc nhóm đối kháng canxi (chẹn kênh canxi), thuốc chẹn beta, thuốc lợi tiểu hoặc người có huyết áp không ổn định [4], [2]. Do qua lâu cũng có tác dụng đối kháng canxi và tác động trực tiếp lên hệ tim mạch [1], việc dùng chung cần được theo dõi sát để tránh biến động huyết áp ngoài ý muốn.

Nhóm thứ ba là người cao tuổi có nhiều bệnh nền, suy giảm chức năng gan thận, đang phải uống nhiều loại thuốc điều trị khác nhau mỗi ngày. Ở nhóm này, các thuốc có khoảng điều trị hẹp rất dễ gặp tương tác qua hệ thống enzyme CYP tại gan [2].

Cách áp dụng thực tế an toàn cho người bệnh tim mạch

Nếu đang điều trị tăng huyết áp hoặc bệnh lý tim mạch bằng thuốc Tây y, nguyên tắc an toàn số một là tuyệt đối không tự ý mua thiên hoa phấn, quả hay hạt qua lâu về sắc uống thêm mà chưa hỏi ý kiến bác sĩ điều trị [4], [2]. Các chuyên gia y tế luôn khuyến cáo cần đánh giá kỹ phác đồ phối hợp thuốc, điều chỉnh liều lượng phù hợp và theo dõi sát các thuốc có chỉ số điều trị hẹp [2].

Trong trường hợp được bác sĩ chuyên khoa Y học cổ truyền và bác sĩ Tim mạch cho phép sử dụng phối hợp, người bệnh cần chọn mua dược liệu tại các cơ sở y tế uy tín, được kiểm định rõ ràng về nguồn gốc giống loài và quy trình chế biến đạt chuẩn [3], [1], [7]. Khi bắt đầu sử dụng, người bệnh nên đo huyết áp tại nhà đều đặn mỗi ngày và chú ý các dấu hiệu bất thường như hoa mắt, chóng mặt, mệt lả hoặc chảy máu chân răng.

Tóm lại, qua lâu và thiên hoa phấn là những vị thuốc quý có nhiều hoạt chất tác động trực tiếp lên hệ tim mạch, nổi bật là cơ chế đối kháng canxi và chống kết tập tiểu cầu [1]. Chính vì có dược tính thật sự, chúng hoàn toàn có khả năng gây tương tác khi dùng chung với thuốc hạ áp và thuốc tim mạch [4], [2], [1]. Người bệnh cần tuân thủ phác đồ của bác sĩ và tham vấn chuyên gia y tế trước khi kết hợp bất kỳ loại thảo dược nào để bảo vệ an toàn cho trái tim.