Đậu phụ, sữa đậu nành vốn quen thuộc trong mâm cơm Việt. Tuy nhiên, nhiều phụ nữ nhận chẩn đoán ung thư vú lập tức gạch bỏ hoàn toàn nhóm thực phẩm này vì sợ "nuôi" khối u phát triển. Liệu kiêng tuyệt đối đậu nành có thực sự cần thiết để ngăn bệnh tái phát?
Câu trả lời từ dữ liệu dịch tễ học hiện đại là không cần kiêng tuyệt đối. Ăn thực phẩm từ đậu nành sau chẩn đoán ung thư vú không làm tăng nguy cơ tái phát hay tử vong [1], [2]. Ngược lại, tiêu thụ đậu nành mức độ vừa phải còn liên quan đến việc giảm nguy cơ tái phát và kéo dài thời gian sống thêm, ngay cả ở bệnh nhân ung thư vú có thụ thể estrogen dương tính (ER+) [3], [4], [5]. Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ hiện ủng hộ việc sử dụng thực phẩm từ đậu nành ở người sống sót sau ung thư vú [1].
Vì sao đậu nành từng bị nghi ngại và cơ chế thực sự trong cơ thể
Nỗi lo sợ bắt nguồn từ việc một số loại ung thư vú nhạy cảm với hormone estrogen [1]. Đậu nành là nguồn cung cấp chính isoflavone (một dạng phytoestrogen - estrogen thực vật) có cấu trúc và đặc tính tương tự estrogen nội sinh [6], [2]. Nhiều người lo ngại hoạt tính giống estrogen này sẽ kích thích tế bào ung thư phát triển và làm bệnh tái phát [6], [7].
Tuy nhiên, isoflavone trong đậu nành không chỉ có đặc tính giống estrogen mà còn sở hữu đặc tính kháng estrogen và chống ung thư [6]. Một nghiên cứu năm 2012 chỉ ra rằng ở bệnh nhân ung thư vú, isoflavone đậu nành có thể hoạt động như một chất đối kháng estrogen (chặn tác động của estrogen lên tế bào) [8].
Bên cạnh việc gắn vào thụ thể estrogen (ER) [3], cơ chế tác động của đậu nành trong ung thư vú còn liên quan đến các hiệu ứng biểu sinh (epigenetic effects) [7]. Isoflavone cũng tương tác với yếu tố tăng trưởng giống insulin-1 (IGF-1) và các đa hình gen liên quan đến nguy cơ ung thư vú như MDM2 và CYP1B1 [7]. Phụ nữ mang các biến thể gen làm tăng nguy cơ ung thư vú thậm chí có thể hưởng lợi nhiều từ việc tiêu thụ lượng isoflavone đậu nành cao [7].
Các nghiên cứu dịch tễ lớn nói gì?
Bằng chứng về sự an toàn và lợi ích của đậu nành không dừng ở lý thuyết mà được chứng minh qua nhiều nghiên cứu đoàn hệ quy mô lớn trên người bệnh thực tế.
Một nghiên cứu năm 2010 đánh giá việc tiêu thụ thực phẩm đậu nành sau chẩn đoán ung thư vú cho thấy mối liên hệ tỷ lệ nghịch với tỷ lệ tử vong và tái phát [3]. So sánh nhóm ăn lượng đạm đậu nành cao nhất với nhóm thấp nhất, tỷ số nguy cơ (HR - chỉ số đo lường rủi ro, dưới 1 là giảm nguy cơ) đối với tử vong chung là 0,67 và đối với tái phát là 0,66 [3]. Khi xét theo lượng isoflavone đậu nành, tỷ số nguy cơ tử vong là 0,76 và tái phát là 0,74 [3]. Kết quả không thay đổi khi loại trừ 156 phụ nữ mắc ung thư vú giai đoạn 0 khỏi phân tích [3]. Tác dụng này xuất hiện ở cả bệnh nhân có thụ thể estrogen dương tính (ER+) lẫn âm tính (ER-), không phụ thuộc vào tình trạng mãn kinh hay giai đoạn bệnh [3].
Năm 2012, một phân tích chuyên sâu gộp dữ liệu từ Dự án Gộp dữ liệu Sau Ung thư vú (After Breast Cancer Pooling Project) đã theo dõi 9.514 người sống sót sau ung thư vú xâm lấn (gồm 2 đoàn hệ tại Mỹ và 1 đoàn hệ tại Trung Quốc) được chẩn đoán từ năm 1991 đến 2006 [6]. Lượng isoflavone tiêu thụ hàng ngày được đo bằng bảng câu hỏi tần suất thực phẩm đã chuẩn hóa [6]. Sau thời gian theo dõi trung bình 7,4 năm, có 1.171 ca tử vong (881 ca do ung thư vú) và 1.348 ca tái phát [6]. Bất chấp sự khác biệt lớn về lượng ăn giữa hai quốc gia, việc tiêu thụ từ 10 mg isoflavone/ngày trở lên giúp giảm đáng kể nguy cơ tái phát với tỷ số nguy cơ là 0,75 [6]. Mức tiêu thụ này cũng liên quan đến xu hướng giảm tử vong do mọi nguyên nhân (HR: 0,87) và tử vong do ung thư vú (HR: 0,83), dù chưa đạt ý nghĩa thống kê [6].
Một nghiên cứu tiến cứu khác công bố năm 2012 tại Trung Quốc thực hiện phỏng vấn trực tiếp từ tháng 1/2004 đến tháng 1/2006 để thu thập thói quen ăn uống từ lúc chẩn đoán đến cuối nghiên cứu [4]. Sau thời gian theo dõi trung vị 52,1 tháng (dao động 9 đến 60 tháng), có 79 ca tử vong liên quan đến ung thư vú được ghi nhận [4]. Kết quả cho thấy ăn trung bình trên 17,3 mg isoflavone/ngày giúp giảm khoảng 36-38% tỷ lệ tử vong do ung thư vú [4]. Lượng đạm đậu nành cao cũng giảm tử vong do ung thư vú với HR là 0,71 [4]. Đặc biệt, phân tích phân tầng theo thụ thể cho thấy tiên lượng tốt hơn rõ rệt ở bệnh nhân ER+ tiêu thụ lượng cao isoflavone (HR: 0,59) [4]. Nhóm nghiên cứu lưu ý cần thêm các nghiên cứu đoàn hệ cỡ mẫu lớn hơn và theo dõi dài hạn hơn [4].
Để có đánh giá chính xác hơn trước các dữ liệu từng bị coi là mâu thuẫn, một phân tích gộp công bố năm 2013 đã tổng hợp 5 nghiên cứu đoàn hệ với tổng cộng 11.206 bệnh nhân [5]. Khi gộp tất cả các so sánh, ăn đậu nành sau chẩn đoán giúp giảm tử vong (HR: 0,85) và giảm tái phát (HR: 0,79) [5]. Khi so sánh nhóm dùng liều cao nhất với thấp nhất, nguy cơ tử vong giảm (HR: 0,84) và tái phát giảm (HR: 0,74) [5]. Phân tích nhóm nhỏ (cao nhất so với thấp nhất) ghi nhận giảm tử vong ở cả bệnh nhân ER- (HR: 0,75), ER+ (HR: 0,72), tiền mãn kinh (HR: 0,78) và sau mãn kinh (HR: 0,81) [5]. Nguy cơ tái phát cũng giảm ở nhóm ER- (HR: 0,64), nhóm dương tính với cả thụ thể estrogen và progesterone ER+/PR+ (HR: 0,65), và phụ nữ sau mãn kinh (HR: 0,67) [5].
Các tổng quan hệ thống gần đây củng cố bằng chứng
Các dữ liệu mới hơn tiếp tục khẳng định tính an toàn của đậu nành. Một bài tổng quan năm 2020 trích dẫn các phân tích gộp năm 2016 và hai phân tích gộp năm 2019 đều kết luận thực phẩm đậu nành không làm xấu đi kết cục bệnh và có thể cải thiện tỷ lệ sống sót [1].
Cũng trong bài tổng quan năm 2020 này, một đánh giá hệ thống trên 13 nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu về tỷ lệ mắc mới và 5 nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu về nguy cơ tái phát, tử vong (theo dõi 4 đến 7 năm sau chẩn đoán đầu tiên) cho thấy chế độ ăn giàu đậu nành gắn liền với mức giảm 25% nguy cơ tái phát và giảm 15% tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân ung thư vú [1]. Hiệu quả giảm tái phát có ý nghĩa ở cả hai thể bệnh, nhưng mạnh hơn ở thể ER- (HR: 0,64) so với thể ER+ (HR: 0,81) [1].
Gần đây hơn, một tổng quan hệ thống năm 2022 đã tra cứu cơ sở dữ liệu Medline/Pubmed và Web of Science, chọn lọc 7 nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu công bố từ năm 2009 đến 2020 [2]. Không có bất kỳ nghiên cứu nào tìm thấy tác dụng bất lợi có ý nghĩa thống kê của việc tiêu thụ đậu nành lên sự tái phát hay tử vong (do ung thư vú hoặc do mọi nguyên nhân) [2]. Chỉ duy nhất một nghiên cứu không tìm thấy lợi ích, còn lại đều cho thấy tác dụng có lợi [2]. Tác giả nhận định các khuyến cáo khuyên tránh đậu nành ở phụ nữ có tiền sử ung thư vú tại Pháp không còn phù hợp với dữ liệu khoa học hiện tại và cần được thay đổi [2].
Hiểu lầm về tương tác thuốc nội tiết và triệu chứng mãn kinh
Một rào cản lớn khiến bệnh nhân ER+ e ngại đậu nành là sợ thực phẩm này làm mất tác dụng của thuốc điều trị nội tiết. Thực tế, cả isoflavone đậu nành và thuốc tamoxifen đều gắn vào thụ thể estrogen [3].
Trong nghiên cứu năm 2010, bản thân thuốc tamoxifen giúp giảm nguy cơ tái phát hoặc tử vong do ung thư vú ở phụ nữ ER+ (HR: 0,77) [3]. Khi đánh giá tác động kết hợp, những phụ nữ ăn lượng đậu nành cao nhất có tỷ lệ tử vong và tái phát thấp nhất so với nhóm ăn ít nhất, bất kể họ có đang dùng tamoxifen hay không [3]. Đáng chú ý, mối liên hệ giảm tái phát của tamoxifen chỉ quan sát thấy ở những phụ nữ ăn đậu nành mức độ thấp đến vừa phải [3]. Một tổng quan năm 2012 cũng khẳng định việc tiêu thụ thực phẩm đậu nành ở mức tương đương người châu Á không gây cản trở liệu pháp tamoxifen hay thuốc anastrozole [7].
Hiểu lầm thứ hai là ăn nhiều đậu nành sẽ giúp giảm bốc hỏa sau điều trị ung thư. Một nghiên cứu quần thể quy mô lớn năm 2012 đã đánh giá tác động theo liều lượng của đậu nành lên các triệu chứng mãn kinh trong 6 và 36 tháng đầu sau chẩn đoán ung thư vú bằng bảng câu hỏi dinh dưỡng chuẩn hóa [8]. Kết quả không tìm thấy bằng chứng nào cho thấy thực phẩm đậu nành làm dịu triệu chứng mãn kinh ở bệnh nhân ung thư vú [8]. Ngược lại, ăn lượng cao đậu nành còn liên quan đến khả năng tăng tỷ lệ bị bốc hỏa ở bệnh nhân ung thư vú tiền mãn kinh, do isoflavone hoạt động như chất đối kháng estrogen ở nhóm bệnh nhân này [8].
Ai nên thận trọng khi dùng đậu nành?
Dù an toàn cho bệnh nhân ung thư vú, một số nhóm đối tượng cần lưu ý về liều lượng và bệnh lý đi kèm.
Thứ nhất là vấn đề tuyến giáp. Nỗi lo ngại về việc đậu nành ảnh hưởng chức năng tuyến giáp xuất phát từ một số ca bướu cổ ở trẻ sơ sinh dùng sữa công thức đậu nành cách đây 60 năm, cùng các nghiên cứu trong ống nghiệm (in vitro) và trên cơ thể sống (in vivo) [1]. Các nghiên cứu này gợi ý rằng isoflavone ức chế hoạt động của enzyme thyroid peroxidase — một enzyme chủ chốt giúp tuyến giáp sử dụng i-ốt để tổng hợp hai hormone triiodothyronine (T3) và thyroxin (T4) [1]. Người có bệnh lý tuyến giáp hoặc thiếu i-ốt nên tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa.
Thứ hai, có dữ liệu sơ bộ cho thấy đậu nành tạo ra các tác động khác nhau lên nguy cơ tái phát tùy thuộc vào việc khối u dương tính hay âm tính với thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì ở người-2 (HER-2) [7].
Thứ ba, bệnh nhân tiền mãn kinh đang gặp triệu chứng bốc hỏa nặng gây ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống cần tránh ăn quá nhiều đậu nành để không làm triệu chứng này nặng thêm [8]. Ngoài ra, bệnh nhân đang dùng thuốc điều trị hoặc cân nhắc dùng thực phẩm chức năng chứa chiết xuất isoflavone cần hỏi ý kiến bác sĩ điều trị, vì các khuyến cáo y tế giữa các quốc gia vẫn có sự khác biệt đối với dạng viên uống bổ sung [2].
Cách áp dụng thực tế: Ăn bao nhiêu là vừa đủ?
Các dữ liệu nghiên cứu cho thấy lợi ích của đậu nành không tăng mãi theo liều lượng mà có ngưỡng tối ưu.
Trong nghiên cứu năm 2010, mối liên hệ giảm tử vong và tái phát diễn ra theo chiều hướng tuyến tính phụ thuộc liều lượng cho đến khi lượng đạm đậu nành đạt 11 gram/ngày (tương đương khoảng 40 mg isoflavone/ngày) [3]. Vượt qua ngưỡng này, lợi ích có xu hướng chững lại hoặc thậm chí đảo chiều [3].
Tương tự, nghiên cứu năm 2012 về triệu chứng mãn kinh cũng chỉ ra lợi ích giảm tử vong và tái phát của đậu nành đạt đỉnh ở mức tiêu thụ vừa phải, tương đương 36,6 đến 62,7 mg/ngày [8]. Việc tăng lượng ăn cao hơn mức này không mang lại thêm lợi ích sống còn, mà còn gây ảnh hưởng bất lợi lên triệu chứng bốc hỏa [8]. Trong khi đó, ngưỡng tối thiểu bắt đầu ghi nhận lợi ích bảo vệ qua các nghiên cứu là từ 10 mg isoflavone/ngày trở lên [6] hoặc trên 17,3 mg isoflavone/ngày [4].
Do đó, người bệnh nên ưu tiên sử dụng các thực phẩm đậu nành truyền thống theo thói quen ăn uống thông thường của người châu Á [7]. Duy trì mức ăn vừa phải (khoảng 11 gram đạm đậu nành hoặc từ 10 đến khoảng 40-62,7 mg isoflavone mỗi ngày) trong chế độ ăn cân bằng hàng ngày là cách tốt nhất để đạt lợi ích bảo vệ mà không gặp tác dụng phụ [3], [6], [8].
Tóm lại, phụ nữ sau chẩn đoán ung thư vú, kể cả thể thụ thể estrogen dương tính hay đang dùng thuốc nội tiết, không cần kiêng khem đậu phụ hay sữa đậu nành [3], [7], [5]. Ăn thực phẩm đậu nành với lượng vừa phải là thói quen an toàn, hỗ trợ giảm nguy cơ tái phát và cải thiện thời gian sống [1], [8]. Người bệnh nên trao đổi trực tiếp với bác sĩ điều trị để điều chỉnh chế độ dinh dưỡng phù hợp nhất với thể trạng và phác đồ cá nhân.
