Cơn thèm đồ ngọt khi mang thai khiến nhiều chị em coi trà sữa hay nước ngọt là thức uống giải tỏa căng thẳng mỗi ngày. Thậm chí, thống kê cho thấy cứ 5 phụ nữ mang thai thì có 1 người uống đồ uống có đường ít nhất một lần mỗi ngày [1]. Nhiều mẹ bầu băn khoăn liệu thói quen này chỉ làm tăng cân ở mẹ hay còn tác động trực tiếp đến sự phát triển của em bé trong bụng.

Các bằng chứng khoa học cho thấy việc tiêu thụ quá mức đồ uống có đường trong thai kỳ có liên quan mật thiết đến nhiều biến chứng chu sinh [1]. Cụ thể, thói quen này làm suy giảm chuyển hóa đường của mẹ, thúc đẩy tăng cân quá mức, tăng nguy cơ tiểu đường thai kỳ và gây bất thường về cân nặng của thai nhi như thai to hoặc sinh con nhẹ cân so với tuổi thai [1][2]. Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng còn phụ thuộc lớn vào lượng tiêu thụ và thời điểm uống trước hay trong khi mang thai [3][4][5].

Cơ chế đồ uống nhiều đường tác động đến mẹ và thai nhi

Trong nghiên cứu dinh dưỡng, đồ uống có đường được định nghĩa là bất kỳ thức uống nào có thêm đường (như đường mía, đường cát, đường nâu, mật ong, dextrose), chất tạo ngọt chứa calo (như siro ngô giàu fructose, sucrose) hoặc nước ép trái cây cô đặc [3]. Các loại đồ uống này thường chứa hơn 25 calo trên mỗi 8 ounce chất lỏng (khoảng 240 ml), bao gồm nước ngọt có ga không ăn kiêng, nước tăng lực, đồ uống thể thao và các loại thức uống pha chế thêm đường như trà sữa [3].

Khi mẹ bầu nạp lượng lớn đường đơn và carbohydrate tinh chế, cơ thể sẽ rơi vào trạng thái căng thẳng oxy hóa (sự mất cân bằng giữa các gốc tự do và chất chống oxy hóa) và gây tổn thương tế bào beta ở tuyến tụy trên những người có cơ địa nhạy cảm về di truyền [2]. Quá trình này làm suy giảm khả năng chuyển hóa glucose của người mẹ, dẫn đến rối loạn đường huyết và khởi phát các bệnh lý chuyển hóa như tiểu đường thai kỳ [2].

Không chỉ dừng lại ở cơ thể mẹ, lượng đường dư thừa tạo ra hiệu ứng đường thụ động truyền sang con [6][7]. Việc tiêu thụ đồ uống có đường làm thay đổi nồng độ glucose của thai nhi, rút ngắn thời gian mang thai và dẫn đến tình trạng thai to (macrosomia) hoặc rối loạn chức năng chuyển hóa của trẻ về sau [2][7]. Các thử nghiệm trên động vật cũng ghi nhận lượng đường cao làm tăng tỷ lệ tiểu đường thai kỳ và làm biến đổi chức năng chuyển hóa của cả mẹ, bào thai lẫn con cái sau khi chào đời [7].

Bằng chứng từ các nghiên cứu quy mô lớn trước và trong thai kỳ

Mối liên hệ giữa thói quen uống nước ngọt trước khi mang thai và bệnh tiểu đường thai kỳ đã được ghi nhận từ một nghiên cứu đoàn hệ tương lai công bố năm 2009 tại Mỹ [5]. Nghiên cứu theo dõi 13.475 phụ nữ mang thai đơn trong suốt 10 năm (từ 1992 đến 2001) và ghi nhận 860 ca mắc tiểu đường thai kỳ [5]. Sau khi điều chỉnh các yếu tố như tuổi tác, chỉ số khối cơ thể (BMI) trước mang thai, vận động và chế độ ăn, kết quả cho thấy những phụ nữ uống từ 5 phần nước ngọt có đường (loại cola) trở lên mỗi tuần trước khi mang thai có nguy cơ mắc tiểu đường thai kỳ cao hơn 22% so với nhóm uống ít hơn 1 phần mỗi tháng [5]. Giới hạn của nghiên cứu này là không tìm thấy mối liên hệ đáng kể ở các loại đồ uống có đường khác hoặc nước ngọt ăn kiêng [5].

Trong giai đoạn mang thai, một nghiên cứu đoàn hệ tương lai rất lớn tại Đan Mạch trên 46.262 phụ nữ đã đánh giá tác động của đường đối với cân nặng [7]. Nhóm nghiên cứu phát hiện việc tiêu thụ đường bổ sung trong thai kỳ có liên quan chặt chẽ đến tình trạng tăng cân quá mức ở mẹ bầu [7]. Ngược lại, chế độ ăn có tỷ lệ chất đạm (protein) trên chất bột đường (carbohydrate) cao hơn lại giúp hạn chế tình trạng tăng cân quá đà này [7].

Một nghiên cứu khác mang tên SECOST công bố năm 2021 theo dõi 452 phụ nữ đã làm rõ hơn sự thay đổi năng lượng từ đồ uống qua các giai đoạn [3]. Trung bình, năng lượng nạp vào từ đồ uống tăng từ 273 kcal/ngày (trước mang thai) lên 349 kcal/ngày (3 tháng đầu) và 361 kcal/ngày (3 tháng giữa) [3]. Phụ nữ có xu hướng tăng uống sữa bầu, thức uống lúa mạch và giảm nước ngọt có ga khi thai kỳ tiến triển [3]. Nghiên cứu phát hiện uống nhiều sữa lên men làm tăng nguy cơ tiểu đường thai kỳ, trong khi uống nước ép trái cây lại giảm nguy cơ này, nhưng mối liên hệ chỉ xuất hiện ở giai đoạn trước mang thai và 3 tháng đầu [3]. Tuy nhiên, nghiên cứu có quy mô mẫu khá nhỏ và cần thêm dữ liệu để khẳng định chắc chắn [3].

Gần đây hơn, một nghiên cứu bán thực nghiệm công bố năm 2023 tại Mỹ đã phân tích dữ liệu giấy khai sinh của 5.324.548 phụ nữ mang thai đơn từ năm 2013 đến 2019 tại 5 thành phố áp dụng thuế đồ uống có đường [1]. Kết quả cho thấy chính sách đánh thuế giúp giảm lượng tiêu thụ đường này có liên quan đến việc giảm 41,4% nguy cơ tiểu đường thai kỳ (giảm 2,2 điểm phần trăm) [1]. Đồng thời, điểm z về mức tăng cân theo tuổi thai giảm 7,9% và nguy cơ sinh con nhẹ cân so với tuổi thai cũng giảm 4,3 điểm phần trăm [1]. Điểm hạn chế là tác động này không đồng nhất giữa các nhóm dân số khác nhau, đặc biệt là về chỉ số tăng cân theo tuổi thai [1].

Góc nhìn đa chiều: Khi nào đồ uống ngọt chưa gây hại rõ rệt?

Dù nhiều nghiên cứu cảnh báo tác hại của việc lạm dụng đường, các bằng chứng khoa học hiện tại vẫn có những kết quả trái chiều khi xét ở mức tiêu thụ vừa phải hoặc khi can thiệp lối sống [6][4]. Một nghiên cứu quan sát tương lai công bố năm 2025 đã theo dõi 365 phụ nữ mang thai đơn không có bệnh lý nền từ lúc thai dưới 12 tuần đến 1 năm sau sinh [4]. Các nhà khoa học thu thập dữ liệu ăn uống trong 24 giờ, đo cân nặng suốt thai kỳ và xét nghiệm đường huyết, insulin lúc đói ở 3 tháng giữa [4].

Kết quả sau khi đã hiệu chỉnh theo độ tuổi, thu nhập, trình độ học vấn và mức độ vận động cho thấy: việc tiêu thụ đồ uống có đường và đồ uống dùng chất tạo ngọt không dinh dưỡng trong thai kỳ không liên quan đến việc tăng cân quá mức, giữ cân sau sinh 1 năm hay làm tăng đường huyết và insulin lúc đói [4]. Các tác giả kết luận rằng trong phạm vi tiêu thụ vừa phải ở nhóm phụ nữ khỏe mạnh này, đồ uống có đường có thể không gây rối loạn đường huyết hay tăng cân dư thừa [4].

Tương tự, một nghiên cứu can thiệp tại Anh thực hiện trên 1.555 phụ nữ mang thai bị béo phì nhằm giảm tải lượng đường huyết, giảm đồ uống có đường và chất béo bão hòa [6]. Can thiệp này giúp giảm đáng kể chỉ số đường huyết của mẹ và giảm mức tăng cân trong thai kỳ, nhưng lại không tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với tỷ lệ mắc tiểu đường thai kỳ hay tỷ lệ sinh con to so với tuổi thai [6].

Giới chuyên môn chỉ ra rằng bằng chứng hiện nay phần lớn dựa trên nghiên cứu quan sát (vì lý do đạo đức không thể ép mẹ bầu nạp nhiều đường để thử nghiệm), nên khó khẳng định quan hệ nhân quả tuyệt đối [6]. Việc đánh giá lượng đường thực tế rất phức tạp do phụ thuộc vào trí nhớ của người tham gia qua bảng câu hỏi tần suất thực phẩm, khó tách bạch đường với chế độ ăn nhiều chất béo, và sự khác biệt về loại đường giữa các quốc gia (như Mỹ dùng nhiều siro ngô giàu fructose trong khi nước khác dùng đường mía sucrose) [6][7]. Sự khác biệt về cỡ mẫu và cách đo lường giữa các nghiên cứu cũng tạo ra những kết quả chưa đồng nhất [8].

Hiểu lầm thường gặp về các loại đường ăn kiêng trong trà sữa

Để tránh tăng cân và tiểu đường, nhiều mẹ bầu khi gọi trà sữa hoặc mua nước giải khát thường chuyển sang các loại đường ăn kiêng (chất tạo ngọt nhân tạo hoặc tự nhiên) vì nghĩ chúng hoàn toàn vô hại. Tuy nhiên, một tổng quan khoa học năm 2025 chỉ ra rằng cả đồ uống có đường truyền thống lẫn chất tạo ngọt nhân tạo đều có liên quan đến việc rút ngắn thời gian mang thai và làm thay đổi nồng độ glucose của thai nhi [2].

Cụ thể, việc tiêu thụ chất tạo ngọt nhân tạo acesulfame K (ace-K) ở chuột mẹ có liên quan đến tình trạng không dung nạp glucose, rối loạn chức năng chuyển hóa và làm chậm sự phát triển của thai nhi [2]. Ngoài ra, việc sử dụng lâu dài chất tạo ngọt sorbitol được chứng minh là làm thay đổi hệ vi sinh vật đường ruột, làm giảm số lượng các vi khuẩn có lợi như Bifidobacterium và Lachnospiraceae, từ đó góp phần gây rối loạn dung nạp đường [2].

Mặc dù một số chất tạo ngọt như cỏ ngọt (stevia) hay aspartame cho thấy tiềm năng kiểm soát đường huyết (cỏ ngọt giúp giảm đường huyết và insulin sau ăn), việc định lượng các chất này trong thực phẩm thương mại rất khó khăn vì nhà sản xuất thường không công bố hàm lượng chính xác [2][7]. Do đó, thay thế đường thông thường bằng đường hóa học trong đồ uống pha chế sẵn không phải là giải pháp an toàn tuyệt đối cho thai kỳ [2][7].

Ai nên đặc biệt thận trọng với trà sữa và đồ uống ngọt?

Nhóm đầu tiên cần kiểm soát chặt chẽ lượng đồ uống có đường là phụ nữ đang có kế hoạch mang thai và mẹ bầu trong 3 tháng đầu [3][5]. Dữ liệu cho thấy thói quen uống nhiều nước ngọt từ trước khi thụ thai (từ 5 phần/tuần trở lên) và trong tam cá nguyệt thứ nhất có mối liên hệ rõ rệt với nguy cơ phát triển tiểu đường thai kỳ ở các tháng sau đó [3][5].

Nhóm thứ hai là phụ nữ thừa cân, béo phì trước và trong khi mang thai [6][8]. Béo phì trong thai kỳ có liên quan trực tiếp đến hầu hết các biến chứng sản khoa như tăng huyết áp thai kỳ, tiền sản giật, tiểu đường thai kỳ và sinh non [8]. Việc nạp thêm lượng đường đơn cao từ đồ uống ngọt ở nhóm này sẽ thúc đẩy tăng cân thai kỳ quá mức và làm trầm trọng thêm nguy cơ biến chứng cho cả mẹ và con [8].

Nhóm thứ ba là những người có yếu tố di truyền nhạy cảm với bệnh lý chuyển hóa hoặc đã được chẩn đoán tiểu đường thai kỳ [2][5]. Ở những người có cơ địa nhạy cảm, chế độ ăn nhiều đường tinh chế dễ dàng kích hoạt quá trình oxy hóa gây tổn thương tế bào tụy [2]. Phụ nữ đã mắc tiểu đường thai kỳ nếu không kiểm soát đường sẽ đối mặt với nguy cơ biến chứng chu sinh cao hơn và tăng khả năng mắc tiểu đường tuýp 2 trong những năm sau sinh, đồng thời làm tăng nguy cơ béo phì và rối loạn chuyển hóa cho con cái [5][8]. Những trường hợp có bệnh nền hoặc đang dùng thuốc điều trị cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa trước khi điều chỉnh chế độ dinh dưỡng.

Cách điều chỉnh thói quen uống đồ ngọt an toàn cho mẹ bầu

Thay vì cắt bỏ đột ngột gây căng thẳng hoặc uống thả ga theo cơn thèm, phụ nữ mang thai nên giữ lượng tiêu thụ ở mức độ vừa phải và ưu tiên cắt giảm các loại đồ uống có đường bổ sung, siro ngô hoặc sữa đặc có đường [1][3][4]. Nếu uống trà sữa hoặc đồ uống pha chế, mẹ bầu nên giảm tối đa lượng đường thêm vào, hạn chế tần suất uống xuống mức thấp (dưới ngưỡng 5 lần mỗi tuần) ngay từ khi chuẩn bị mang thai [3][5].

Về mặt dinh dưỡng tổng thể, mẹ bầu nên điều chỉnh chế độ ăn theo hướng tăng tỷ lệ chất đạm (protein) so với chất bột đường (carbohydrate) [7]. Cách kết hợp thực phẩm này đã được chứng minh có mối liên hệ nghịch với tình trạng tăng cân quá mức trong thai kỳ [7]. Khi muốn đổi vị ngoài nước lọc, phụ nữ mang thai (đặc biệt trong 3 tháng đầu) có thể cân nhắc dùng nước ép trái cây nguyên chất với lượng hợp lý thay vì các loại sữa lên men nhiều đường hay nước ngọt có ga [3].

Thai kỳ là khoảng thời gian nhạy cảm, nơi những tiếp xúc dinh dưỡng ngắn hạn có thể để lại hệ quả lâu dài cho cả người mẹ và đứa trẻ suốt cuộc đời [1]. Một ly trà sữa thỉnh thoảng ở mức độ vừa phải có thể không gây hại ngay cho một thai kỳ khỏe mạnh, nhưng việc lạm dụng đồ uống nhiều đường mỗi ngày chắc chắn là gánh nặng cho hệ chuyển hóa [1][2][4]. Lắng nghe cơ thể, ăn uống cân bằng và khám thai định kỳ để tầm soát đường huyết là cách tốt nhất để mẹ bầu bảo vệ sức khỏe cho cả hai mẹ con.